banner web

Sói Thảo Nguyên – Hermann Hesse : Cô độc như sói giữa thảo nguyên

sói thảo nguyên

Sói thảo nguyên là câu chuyện thông qua nhân vật Harry Haller của nhà văn người Đức –  Hermann Hesse đang kể về cuộc đời của chính mình, nên “sói thảo nguyên” được coi là cuốn sách tự truyện của Hermann Hesse . Năm 1927, tác phẩm sói thảo nguyên  được xuất bản lúc ông đã 50 tuổi và mới chia tay người vợ thứ 2. Nên những cảm xúc giằng xé của lương tâm lúc nào cũng tồn tại khiến cho nhân vận chính là Harry Hall luôn cảm thấy anh ấy sống với 2 nhân cách con người và con sói.

Tác phẩm sói thảo nguyên

Sói thảo nguyên là tác phẩm thành công nhất của Hermann Hesse, như viện hàn lâm Thuỵ Điển đánh giá Sói thảo nguyên là đặc sắc nhất trong những tác phẩm chịu ảnh hưởng phân tâm học của  nhà phân tâm học SigmunFreud và mấy thập niên đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên khi sói thảo nguyên xuất bản lần đầu vào năm 1927, giới phê bình văn học ở Đức đã tỏ ra lạnh nhạt, thậm chí thù địch, bị quy chụp với nhiều nguyên nhân. Cuốn sách này cũng đã khiến nhiều độc giả tự sát – bên cạnh là những hiểu lầm khác. Nên năm 1942, Hermann Hesse đã phải viết lời bạt để giải thích

“Quyển sách này do một người 50 tuổi viết ra và nói những vấn đề của lứa tuổi đó, nhưng nó lại rất thường rơi vào tay các bạn đọc quá trẻ. Cuốn sách tuy kể về những đau khổ và cùng quẫn nhưng hoàn toàn không phải là sách của một kẻ tuyệt vọng, mà của một người tin tưởng. Câu chuyện của sói thảo nguyên tuy diên tả một thứ bệnh và sự khủng hoản, song không phải là một thứ bệnh và sự khủng hoảng, song không phải thứ bệnh đưa tới cái chết, không phải một sự diệt vong, mà ngược lại : một sự chữ lành.”

Nhân vật chính Harry Haller trong sói thảo nguyên là hình ảnh tiểu thuyết hoá của Hermann Hesse đứng trước những nghịch cảnh, bất hạnh, bệnh tật của chính mình thì chẳng chia sẻ được với ai. Harry Haller chọn cuộc sống cô độc như con sói giữa thảo nguyên, một kẻ cảm thấy mình nửa người, nửa sói. Phần nhân tính mong ước liên kết con người và những khát vọng hoang dã không ngừng đối chọi với nhau.

Bất hạnh của Hermann Hesse

–  Năm 1892, ông đã tự tử một lần khi mới 15 tuổi thì cơn trầm cảm đã khiến ông nghĩ đến việc tự tử

– Năm 1916 : cha ông chết, bà vợ đầu tiên mắc chứng tâm thần phân liệt phải nằm viện, con trai út lâm bệnh nặng, khiến ông cũng bị khủng hoảng và điều trị tâm lý trong thời gian dài. Ông thử tìm sự bình yên trong tôn giáo nhưng thất bại nên tiếp tục sống cuộc đời của chính mình và tìm hiểu thuyết phân tâm học của C. Jung, Freud và từ đó những tư tưởng phân tâm học len lõi vào từng tác phầm của ông sau này.

– Năm 1923 :  Bà vợ, sau khi khỏi bệnh và trở thành người khác. Ông nhận thấy tình cảm rạn nứt và không chia sẻ được với bà ấy nữa. Hôn nhân đầu tiên tan vỡ

– Năm 1927 : Cuộc hôn nhân thứ 2 cũng tồn tại 1 năm và hai người chia tay , và Hermann Hesse viết cuốn sói thảo nguyên lúc này

– Năm 1931 ông kết hôn lần 3 với Ninon. Hai người đã sống bền vững cho đến ngày ông mất.

– Năm 1946 ông giành được Giải Goethe và Giải Nobel Văn học.

– Năm 1962 : Ông mất và được an táng tại nghĩa trang của San Abbondio – Thuỵ Sỹ.

Herman Hesse.
Herman Hesse.

Những tác phẩm tiêu biểu và triết lý của Hermann Hesse

Có thể nói tất cả các tác phẩm của Hermann Hesse đều chứa đựng một phần tính tự truyện trong đó. Ông trải nghiệm những cảm xúc, suy nghĩ  từ những tình huống ngoài đời thực, rồi đem chúng vào văn chương .

Sự quen biết với học thuyết về nguyên mẫu (archetype) của nhà tâm lý học Carl Gustav Jung đã có ảnh hưởng quyết định đến các tác phẩm của Herman Hesse, được biểu lộ đầu tiên trong quyển tiểu thuyết Demian: con đường của một người trẻ tuổi đi tìm chính mình trở thành một trong những đề tài chính của ông.

Chính vì thế mà không biết bao nhiêu thanh niên đã và vẫn chọn Hermann Hesse là tác giả mà họ thích nhất. Truyền thống tiểu thuyết giáo dục cũng được tìm thấy trong Demian, nhưng trong tác phẩm này (cũng như trong Steppenwolf) các hành động không diễn ra trong hiện thực mà trong một cảnh quang nội tâm.

>> Carl Gustav Jung với 12 nguyên mẫu tính cách con người

Một khía cạnh quan trọng khác trong các tác phẩm của Hesse là sự duy linh (spirituality), không những chỉ có trong quyển tiểu thuyết Siddharta. Các đạo giáo Ấn Độ, đạo Lão và thuyết thần bí của Thiên chúa giáo là nền tảng của việc này. Một số nhà phê bình chỉ trích Hermann Hesse là ông đã sử dụng văn chương để diễn đạt thế giới quan của mình. Người ta cũng có thể đảo ngược phê bình này để nói là các nhà phê bình chỉ phản đối thế giới quan của Hesse chứ không chỉ trích văn chương của ông.

Tất cả các tác phẩm của Hesse đều chứa đựng một phần tính tự truyện, đặc biệt có thể thấy rõ trong Steppenwolf (Sói thảo nguyên), quyển tiểu thuyết có thể được lấy làm thí dụ cho một “tiểu thuyết về một cơn khủng hoảng trong cuộc sống”. Chỉ trong các tác phẩm sau đó phần tự truyện này giảm đi. Trong hai quyển tiểu thuyết liên kết với nhau, Die Morgenlandfahrt và Das Glasperlenspiel, Hesse trở về đề tài ông đã viết trong Peter Camenzind: sự đối lập giữa vita activa (sống để làm việc từ thiện cho người khác) và vita contemplativa (sống để tìm sự giải thoát cho bản thân).

Tác phẩm Sói Thảo Nguyên được viết vào năm 1927 khi ông đã 50 tuổi và vừa chia tay người vợ thứ 2. vì thế Hermann Hesse đã đưa tất cả những gì ông trải qua và cảm xúc lúc đó như thế nào vào nhân vật Harry Haller. Sói Thảo Nguyên được nhận định là “tiểu thuyết về một cơn khủng hoảng trong cuộc sống”.

Nhân vật Harry Haller như Sói thảo nguyên

Cuộc đời con người từ lúc sinh ra đã có số mệnh, ta chẳng thể nào chọn lựa. Rồi qua những năm tháng trưởng thành, tính cách con người dần thay đổi, mỗi một giai đoạn cuộc đời thì con người ta lại chọn một tính cách và cách tư duy khác nhau.

Cô độc là một trạng thái tâm lý, nhưng đôi khi cũng là một tính cách, đúng là sự cô độc thì chẳng ai muốn nhưng có những con người muốn sống trong cảm giác như thế. Họ cũng muốn kết nối và trò chuyện với mọi người nhưng không thể. Không phải họ có vấn đề về giao tiếp hay mắc chứng nói lắp, hay bị câm mà vấn đề họ không muốn nói, mà có nói ra thì cũng không ai hiểu.

Nên nhân vật Harry Haller hay Hermann Hesse trong Sói Thảo Nguyên luôn cảm thấy lạc lõng và cô đơn giữa xã hội, cảm thấy mình không hợp thời đại, một cảm giác tuyệt vọng và tăm tối.

“Ngay giữa một thế giới mà không mục tiêu nào của nó tôi chia sẻ được, không một niềm vui nào phản ánh niềm vui của tôi, hỏi làm sao tôi không trở thành một con sói thảo nguyên, một kẻ ẩn cư thô lỗ được…”. (trang 55)

Harry Haller không thể thích nghi và hoà hợp với cuộc sống, và bất cứ người nào

“Tôi đúng là sói thảo nguyên, như tôi thường tự xưng, một con vật lạc loài trong một thế giới xa lạ và khó hiểu và nó không còn tìm thấy quê hương, khí trời và thức ăn, quen thuộc của nó. (Trang 56)

Hành trình của Harry, qua những giấc mơ, những cuộc trò chuyện với Goethe, Mozart, cuộc tình với Maria, Erika, Hermine, dạ vũ hoá trang, những trò chơi ở hí viện ma thuật đều thể hiện một sự giằng xé trong tâm hồn của Harry, của tác giả để thấu hiểu cuộc sống, thấu hiểu bản ngã.

“ Đương nhiên, cuộc đời luôn khủng khiếp mà. Chúng ta không thể làm gì khác, nhưng vẫn cứ phải chịu trách nhiệm. Người ta sinh ra là đã mang sẵn tội lỗi rồi. Nếu ông không biết điều này thì hẵn ông đã được học thứ giáo lý kỳ quái” (Sói thảo nguyên – trang 300)

Harry Haller – một kẻ cảm thấy mình nửa người nửa sói phải hứng chịu nhiều khốn khổ cho đến khi phát hiện ra 2 phương cách thoát khỏi tình trạng này : hoặc tự sát hoặc tìm đến sự hài hước. Harry không được quyền Tự s.á.t mà phải bắt buộc học khiếu hài hước. Ở phần cuối truyện, Harry Haller sau khi đâm chết Hermine  thì Mozart (nhân vật tưởng tượng trong tâm trí Harry) bước đến nói chuyện với anh ấy, rồi bật cái radio. Ổng đã hỏi :

“ông chẳng biết làm gì khác với một cô gái xinh đẹp như thế kia, mê hồn như thế kia hơn là đâm vào thân thế nàng và huỷ diệt nàng”

Harry Haller thanh minh là chính Hermine muốn như thế, anh chỉ hoàn thành tâm nguyện của nàng, nhưng Mozart lại nói :

Ông lúc nào cũng thống thiết nhưng Harry ơi ! ông sẽ học được hài hước ngay thôi mà. Chỉ thứ hài hước lúc cùng quẫn mới đáng gọi là hài hước và trong trường hợp cần thiết ông sẽ được học nó ngay dưới máy chém “ (Sói thảo nguyên trang 311)

Mozart nói :

“Ông cần phải sống và cần học cười.  Ông bạn cần hiểu được tính hài hước của cuộc đời., tính hài hước giả tạo  của cuộc đời này.Ông cần tập lắng nghe thứ âm nhạc khốn kiếp từ Radio, trân trọng cái hồn ấn sau âm nhạc ấy, tập cười cái điều ngớ ngẩn trong đó. Chỉ thế thôi không đòi hỏi nhiều hơn ở ông ” ( Trích sói thảo nguyên – Trang 314).

Cuối cùng thì chẳng có cuộc hành quyết nào dành cho Harry Haller, hay anh bị máy chém kết tội mà hình phạt dành cho anh là phải tập hài hước trước những bi kịch và phi lý của cuộc đời. Tự sát và xử tử là chuyện quá dễ dàng.

Hermann Hesse từng nói

“Tôi bắt đầu hiểu rằng sự đau khổ, thất vọng và sầu muộn không tồn tại để làm ta khốn khổ, hay coi rẻ ta, hay tước đoạt đi của ta sự tự tôn. Chúng ở đó để biến đổi ta và khiến ta trưởng thành” .

>> Những nhà văn của sự cô độc

Cuộc đời là phi lý

Albert Camus
Albert Camus

Cũng như Abert Camus từng nhận định cuộc sống này là phi lý : tự s.á.t là ngu xuẩn và dựa vào tôn giáo không làm con người ta bớt khổ, dù cuộc sống cay nghiệt thế nào cũng phải sống cuộc đời của chính mình dù ai nói gì cũng phải sống. Những người chấp nhận cuộc sống phi lý thì theo A. Camus gọi là hình tượng “những anh hùng phi lý” mà nhân vật Sisyphus trong tác phẩm “Thần thoại Sysyphus” của ông là điển hình. Tính chất anh hùng của Sisyphus nằm ở sự tận tâm với nhiệm vụ, mặc dù luôn hiểu rõ rằng không bao giờ có thể hoàn thành được.

Nhưng bất chấp sự phi lý của cuộc hiện hữu, Sisyphus từ chối sức cám dỗ tự s.á.t để nhìn nhận cuộc đời như nó vốn có. Đối với Abert Camus, tự s.á.t không thể là lối thoát đích thực ra, thoát khỏi sự phi lý của hiện hữu. Với tư cách cá nhân, chúng ta có trách nhiệm sẵn sàng giáp mặt với sự phi lý, chứ không tìm cách lẩn tránh.

>> Đọc thêm : Albert Camus : Cuộc đời là phi lý nhưng ta vẫn phải sống

Ngoài ra chúng ta cần phải tập sử dụng “khiếu hài hước” để giễu nhại nghịch cảnh của bản thân như Harry Haller bị bắt buộc phải làm để tiếp tục kéo dài những chuỗi ngày tồn tại ở nhân gian.

Sói thảo nguyên dù khó đọc nhưng nó vẫn mang giá trị nhất định, hành trình thoát khỏi bế tắc, khủng hoảng của bản thân. Và là tác phẩm theo tôi vẫn là hay nhất của Hermann Hesse.

Sói thảo nguyên - Hermann Hesse
Sói thảo nguyên – Hermann Hesse

—————
Chim Én

Avatar of Triệu Dương

Một người thích viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội

Leave a Reply