banner web

Khái quát về võ hiệp trong xã hội – Ôn Tử Kiến

Văn hoá võ hiệp - Ôn tử kiến

Từ Võ hiệp được dùng trong hai lĩnh vực: một là võ hiệp trong xã hội – lịch sử, hai là “võ hiệp” trong văn học. Bài này chúng ta sẽ cũng xét võ hiệp trong xã hội trong cuốn sách “Văn hoá võ hiệp” của tác giả Ôn Tử Kiến.

Võ Hiệp là gì

Võ hiệp là võ sĩ tự do trong xã hội truyền thống Trung Quốc. Đặc điểm của họ là thường tế khốn phò nguy, lấy sức mạnh để diệt trừ bạo lực, không quan tâm đến chuyện sống chết.

Đoàn Ngọc Tài trong sách “Thuyết văn chú” đã giải thích: “Chữ “hiệp” vốn là chữ “giáp”, một chữ tượng hình người mang áo giáp. Có thể thấy “hiệp sĩ” tức chỉ kẻ sĩ mặc giáp, cũng tức là “võ sĩ”, Hiệp sĩ cũng là người coi thường sự sống chết, dám liều mình.

Chữ “võ” chỉ việc can qua chinh chiến, nhưng nghĩa gốc của nó là “chỉ qua” (tức dừng chinh chiến). Có thể thấy hiệp sĩ mặc giáp cầm binh khí xông pha chiến trận để thực hiện hòa bình. Từ “hiệp” xuất hiện đầu tiên trong sách “Hàn Phi Tử”. Thiên “Ngũ đố” (năm loại một) trong sách “Hàn Phi tử” viết rằng:

“Nho lấy văn làm loạn phép, hiệp lấy võ phạm cấm”, “những kẻ ấy mang kiếm, tập hợp đồ thuộc, lập khí tiết để được nổi tiếng, vì thế mà phạm cấm lệnh của vua quan”;

“cần loại bỏ bọn dân ương bướng không kính trọng bề trên, không sợ pháp lệnh. Vậy mà có kẻ lại dung dưỡng bọn du hiệp, cứ như thế thì nước không thể yên ổn được”.

Hàn phi tử
Hàn phi tử

Trong thiên “Lục phản” (sáu điều trái ngược) Hàn Phi Tử  lại viết:

“Những kẻ cầm kiếm giết người là loại dân hung bạo, nhưng người đời lại đề cao họ, gọi họ là kẻ sĩ dũng cảm cứng rắn. Những kẻ cứu sống giặc, che giấu bọn gian – đó là dân đáng chết, vậy mà người đời lại đề cao họ, gọi là những kẻ sĩ nghĩa hiệp.”

Từ những cứ liệu trên, có thể thấy võ hiệp đều là những người giỏi võ công, vân du bốn phương, chủ yếu làm việc ám sát, dám mạo hiểm, lại lấy việc chống lại pháp lệnh quan phương làm tiêu chuẩn giá trị; loại tiêu chuẩn giá trị ấy lại được sự khẳng định và tán thưởng của nhân dân tầng lớp dưới.

Hàn Phi Tử đứng trên lập trường khắt khe khắc bạc của Pháp gia, chỉ trích họ vũ dũng hiếu sát, không coi trọng kỷ cương pháp luật, là một trong năm loại sâu mọt của quốc gia, cũng là một trong “sáu loại dân gian ngụy vô ích”. Rõ ràng trong con mắt của Hàn Phi Tử “hiệp” là một từ mang nghĩa xấu, có một khoảng cách khá lớn so với “hiệp” trong con mắt của người ngày nay.

Tư Mã Thiên không những là người đầu tiên viết “liệt truyện” về những người du hiệp và thích khách mà còn là người đầu tiên đánh giá một cách khách quan, công bằng về công lao và sai lầm của họ. Trong thiên “Du hiệp liệt truyện” sách “Sử ký”, ông viết rằng:

“Những kẻ du hiệp ngày nay, việc làm của họ tuy không theo pháp lệnh, nhưng lời họ đã nói là chắc chắn, việc họ làm thì quả quyết, đã hứa tất giữ lời, không tiếc tính mạng để cứu người ra khỏi nguy khốn. Sau khi đã xông pha vào nơi nguy hiểm để cứu người, họ lại không khoe tài, coi việc kể ơn là đáng thẹn; như vậy thì xem ra cũng có nhiều điều đáng khen.” “Nếu xét về mặt công lao, giữ được lời đã hứa, thì có thể xem thường nghĩa khí của bọn hiệp khách được sao?”

Cách nhìn nhận về võ hiệp của người ngày nay là kế thừa “Sử ký”; như thể đã thấy nhận thức và kiến giải siêu việt của vị sử gia hơn hai ngàn năm trước.

Có người cho rằng, từ khi có sử đến nay vị hiệp khách đầu tiên là Tào Mạt, một viên tướng nước Lỗ thời Xuân Thu. Theo “Thích khách liệt truyện” trong sách “Sử ký” nói thì Tào Mạt ba lần cầm quân nước Lỗ giao chiến với Tề đều thất bại, nước Lỗ bị ép phải cắt đất cầu hòa. Thế là tại hòa hội của hai vua Tề Lỗ

“Tào Mạt cầm chủy thủ sấn tới trước Tề Hoàn Công, tả hữu của Hoàn Công không dám nhúc nhích. Hoàn Công hỏi: “Ngài muốn gì?”

Tào Mạt nói: “Tề mạnh Lỗ yếu, Tề xâm lăng Lỗ thật là quá đáng. Nay thành nước Lỗ đổ, đè xuống nước Tề, ngài hãy liệu đi”. Hoàn Công bèn hứa trả lại tất cả những đất đã chiếm của nước Lỗ. Được lời hứa ấy rồi, Tào Mạt ném chủy thủ, bước xuống đàn, ngồi vào vị trí của quần thần, mặt quay về hướng Bắc, sắc mặt không hề thay đổi, lời lẽ vẫn bình thường.”

Điều không thể giành được nơi chiến trường với thiên binh vạn mã lại nhờ vào cái dũng cảm của một người đơn độc mà giành được. Tào Mạt đúng là hiệp khí ngất trời. Nhưng, chúng ta không thể chỉ căn cứ vào một hành vi hiệp nghĩa mà xác định thân phận hiệp khách của một con người. Tào Mạt là tướng quân, chứ không phải là một hiệp sĩ theo ý nghĩa xã hội của từ này.

Cũng như “Tiểu Huyền Tử” hai ngàn năm sau, tuy cũng “nghiện” hành hiệp nhưng rốt cuộc cũng không thể làm được một trang hiệp khách mà chỉ có thể làm một hoàng đế (Kim Dung – “Lộc Đỉnh ký”).

Thời đại của du hiệp

Đại để, trong thời chế độ cắt đất phong hầu của nhà Chu giải thể, giai tầng du hiệp đã hưng khởi lên. Họ là những người tự do, không chịu sự ràng buộc của kỷ cương pháp luật, không có tài sản, không có nghề nghiệp cố định, mình mang võ công chu du các nước, “lộ kiến bất bình bạt đao tương trợ” (giữa đường thấy sự bất bình thì rút đao ra giúp đỡ), cứu người qua khỏi hoạn nạn, giúp người yếu đuối trừ kẻ bạo cường.

võ hiệp

Học trò của Mặc Tử là những võ sĩ (cự tử), du thuyết các nước chư hầu, ngăn chặn can qua, lấy lý lẽ để thuyết phục, dùng uy phong để áp đảo, tuyên truyền cho chủ trương “phi công” (chống chiến tranh) và “kiêm ái” (yêu thương tất cả). Lại có một loại thích khách hi sinh thân mình, hành thích kẻ cừu địch để báo đáp ân tình tri ngộ.

Chẳng hạn như

  • Chuyên Chư giấu chủy thủ trong bụng cá, thừa cơ đâm chết Vương Liêu trong bữa tiệc, giúp Hạp Lư lên ngôi vua nước Ngô.
  • Dự Nhượng sau khi chủ là Trí Bá bị Triệu Tương Tử tiêu diệt đã thề rằng: “Kẻ sĩ chết vì người tri kỷ”, rồi “sơn mình giả làm hủi, nuốt than giả làm người câm” hai phen hành thích Triệu Tương Tử đều không thành, bất đắc dĩ phải xin Triệu Tương Tử giao cho tấm áo để đâm nát rồi vung kiếm tự tử.
  • Nhiếp Chính nhận lời Nghiêm Trọng Tử hành thích Tướng quốc nước Hàn là Hiệp Lũy, việc xong rồi chàng “tự lột da mặt, móc mắt, mổ bụng” khiến người ta không nhận ra nhân dạng để khỏi liên lụy đến người thân. Nhưng chị của chàng không thẹn là một liệt nữ, công nhiên đến nhận thi hài của em trai, dõng dạc nói rằng: “Lẽ nào tôi sợ bị bắt giết mà để cho tên tuổi của hiền đệ tôi bị mai một.”
  • Đến câu chuyện Kinh Kha hành thích Tần Thủy Hoàng thì nhà nhà đều biết, lời ca khẳng khái “Gió hiu hiu sông Dịch lạnh tê, tráng sĩ ra đi không trở về” còn vọng mãi ngàn năm.

Hiệp khách khanh tướng

Ngoài những “hiệp khách áo vải” còn có những “hiệp khách khanh tướng”. Họ đều là thân thuộc của vua chúa, sống trong phú quí, mở rộng cửa để tiếp đón hiền sĩ trong thiên hạ, nổi tiếng khắp các nước chư hầu.

Chẳng hạn như môn khách của Mạnh Thường Quân ở nước Tề, có kẻ chỉ biết mấy trò “gà kêu chó sủa” nhưng lúc nguy cấp lại giúp Mạnh Thường Quân thoát khỏi nước Tần. Môn khách của Bình Nguyên Quân nước Triệu là Mao Toại, tự giới thiệu mình, đem cái dũng của kẻ thất phu mà buộc vua Sở phải xuất binh cứu Triệu.

Tín Lăng quân ở nước Ngụy kết giao với người ở tầng lớp dưới, nhờ người đồ tể Chu Hợi “giấu cây chùy 40 cân trong tay áo”, đập chết Tấn Bỉ, đoạt lấy quyền thống lĩnh đại quân nước Ngụy đến giải vây thành Hàm Đan cứu Triệu.

Đó là thời đại hoàng kim của hiệp khách, hiệp khách được các bậc khanh tướng công hầu khẳng định và kính trọng, nhiều người nổi danh trong thiên hạ. Dù họ gắng sức phục vụ vương công quý tộc nhưng họ cũng giữ được quyền tự do của mình, một lời không ưng ý có thể phủi áo ra đi.

Mạnh Thường Quân
Mạnh Thường Quân và khách trong nhà

Chẳng hạn như Phùng Huyên làm môn khách nhà Mạnh Thường Quân, mấy lần vỗ kiếm ca rằng “Kiếm dài ơi trở về thôi” để Mạnh Thường Quân phải biệt đãi mình. Dự Nhượng thì nói rằng: “Ta theo họ Phạm và họ Trung Hàng, họ đãi ta như người thường cho nên ta báo đáp họ như báo đáp người thường. Còn Trí Bá đãi ta như bậc quốc sĩ nên ta báo đáp Trí Bá với tư cách quốc sĩ.” Vương công quý tộc đối xử với họ như thế nào họ sẽ báo đáp như thế ấy.

Trong thời kỳ động loạn cuối Tần, hiệp khách càng có đất dụng võ. Trương Lương từng một mình hành thích Tần Thủy Hoàng. Còn đại tướng của Hạng Vũ là Quý Bố thời trẻ là một vị du hiệp nổi tiếng. Lúc bấy giờ người nước Sở có câu ngạn ngữ: “Được ngàn lạng vàng không bằng được một tiếng “ừ” của Quý Bố”.

Đầu đời Hán, phong khí du hiệp rất thịnh, “hiệp khách rất đông”. Ở quê hương của Nho giáo là nước Lỗ, có hiệp sĩ Chu Gia nổi danh thiên hạ. Ông không ngần ngại mở cửa đón tiếp và lưu kẻ thù của Hán Cao Tổ là Quý Bố trong nhà, đồng thời nhờ người đến thuyết phục Hán Cao Tổ Lưu Bang xá tội cho Quý Bố, “đến khi Quý Bố được tôn quí, Chu Gia suốt đời không gặp Quý Bố nữa.”

Ở Hà Nam có Kịch Mạnh “Tể tướng được ông ta mừng như thu phục được một nước địch”. Đứa cháu của Quách Giải ở đất Chỉ ỷ thế cậu mà làm càn bị người ta giết chết. Người chị của Quách Giải để thây con bên đường để khích Quách Giải ra tay. Quách Giải rất hiểu đại nghĩa, phóng thích kẻ hung thủ đã nhận tội, nói rằng: “Con của chị có tội, thu liệm mà chôn cháu đi.”

Đầu đời Hán ngoài những đại hiệp quang minh lỗi lạc, còn có không ít những tay “hiệp đạo” như họ Diêu ở phương Bắc, Chư Đỗ ở phương Tây, Cừu Cảnh ở phương Nam, Triệu Tha, Vũ Công Tử ở phương Đông. Nhưng Tư Mã Thiên cho rằng nhân cách của họ không bằng được những người như Chu Gia, Quách Giải nên không nói về họ.

Theo xu thế ngày càng hoàn thiện của chính thể chuyên chế phong kiến, tập trung quyền lực đến cao độ, không gian sinh tồn của võ hiệp ngày càng bị thu hẹp. Chẳng cần biết anh có “dùng võ để phạm cấm” hay không, chỉ cần anh “có tiếng là nhậm hiệp” thì đã là một sự thách thức đối với quyền uy thần thánh của kẻ thống trị, thì đã là một nhân tố bất an của xã hội “đại nhất thống”.

Chỉ cần có tiếng là nhậm hiệp thì đủ “đáng bị tru diệt” rồi. Ở các thời Hán Văn Đế, Cảnh Đế, Vũ Đế, Thành Đế và thời Vương Mãng nhiếp chính, đều đã từng ra sức “bắt giết bọn hào hiệp”. Quách Giải “có cha nhậm hiệp bị giết ở thời Hiếu Văn hoàng đế”, dù Giải rất “cung kính, không dám đi xe vào cửa huyện nha” nhưng cuối cùng Giải vẫn bị chém đầu mà không rõ tội danh gì. Vì thế một số đại hiệp buộc phải giao thiệp với các bậc công hầu, phòng khi nguy cấp còn có “bùa hộ mệnh” (lời Lỗ Tấn). Thiên “Du hiệp truyện” trong sách “Hán thư” của Ban Cố ghi chép truyện của bốn vị hiệp khách rất nổi tiếng, họ làm “Thái thú Quảng Hán”, “Thái thú Hà Nam”, “Trấn nhung đại doãn” hoặc đi lại với quan Trung thư lệnh, hoặc được gia ân phong hầu.

Du hiệp – hiệp khách dưới áp lực chính trị

Dù phong khí du hiệp có bị suy giảm dưới áp lực chính trị nhưng vẫn không bị thất truyền. Ở thời kỳ chính trị ổn định, hiệp khách bị phân tán, mai danh ẩn tích, không thể tụ tập, không thể tồn tại với tư cách một giai tầng trong xã hội. Nhưng ở những thời điểm thay triều đổi đại thì lại có “giang hồ hào khách nổi bốn phương”, đao kiếm của hiệp khách thay thế pháp lệnh quan phương. Nói cách khác, trong một xã hội mà hiệp khách và đạo phỉ tụ họp hoành hành thì phần lớn là chính quyền đang lung lay, đó là tín hiệu dự báo nguy cơ.

Thời Tam Quốc, dưới trướng Tào Tháo có viên mãnh tướng Hứa Chử “dung mạo hùng tráng kiên nghị, sức mạnh tuyệt luân” mọi người đều gọi là “Chử hiệp khách”. Những vũ sĩ do Chử chỉ huy “mấy chục người có công được phong hầu, hơn trăm người làm đô úy, hiệu úy, đều là kiếm khách cả.”

Vua chúa trung hoa
Vua chúa trung hoa

Cuối đời nhà Tùy, các nhà sư Chí Tháo, Huệ Dương… của chùa Thiếu Lâm đã phò tá Lý Thế Dân, bắt sống cháu của Vương Thế Sung là Vương Nhân Tắc, họ đều được phong hầu. Võ công Thiếu Lâm lừng danh thiên hạ. Bắt đầu từ thời này, việc nhiều nhà sư, đạo sĩ trở thành một bộ phận của võ hiệp là một điều khiến người ta phải chú ý.

Phong khí nhậm hiệp đời Đường lại thịnh hành, thanh thiếu niên phần nhiều cảm thấy làm du hiệp là vinh dự. Phong khí ấy có nhiều nguyên nhân xã hội. Từ Ngụy, Tấn đến Tùy, Đường, các dân tộc thiểu số từ phương Bắc không ngừng di cư đến Trung Nguyên, Hồ Hán có sự đồng hóa. Thói quen thô phác hào phóng, thượng võ hiếu dũng của người phương Bắc truyền vào nội địa khiến cho phong khí nhậm hiệp lại bùng lên. Đời Đường thương nghiệp phát đạt, đô thị phồn vinh, khiến cho các hiệp khách ở nơi hang cùng ngõ hẻm cũng có đất dụng võ. Họ, hoặc bảo vệ thương nhân, bảo vệ hàng hóa trên con đường giao thương hoặc làm đạo phỉ cướp hàng hóa của thương nhân.

Ở thời Trung, Vãn Đường, phiên trấn cát cứ, tranh đoạt lẫn nhau đều ra sức nuôi thích khách để khống chế và uy hiếp đối phương. Ở vào tình thế bên trong thì bị phiên trấn cát cứ, bên ngoài thì có ngoại tộc nhòm ngó, triều đình cũng có ý thức khuyến khích tinh thần thượng võ trong dân gian, lại không quá câu nệ trong việc đề bạt nhân tài văn võ vào các chức vụ thừa tướng, tướng quân.

Cuối đời Nguyên và thời Minh mạt Thanh sơ, mâu thuẫn dân tộc hai phen trở nên kịch liệt, lời kêu gọi đánh đuổi dị tộc, phục hưng Hán tộc vang dội khắp nơi. Giang hồ hào kiệt phần nhiều tham gia các cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược, trở thành bộ phận chủ lực của các lộ nghĩa quân.

Hiệp và đạo ra đời

Dưới hai thời Minh Thanh, số dân lưu vong tăng vọt, khiến cho các tổ chức bí mật phát triển. Xã hội bí mật này bao gồm hệ thống giáo môn do Bạch Liên giáo làm chủ thể và hệ thống hội đảng do Thiên Địa hội đứng đầu. Thành viên của xã hội bí mật rất hỗn tạp, mục tiêu công khai và hành động thực tế của họ nhiều khi rất xa nhau. Xã hội bí mật vừa có mặt đoàn kết hỗ trợ nhau, giúp người yếu đuối trừ kẻ bạo cường trong đó đôi khi cũng sáng rực lên tinh thần hiệp nghĩa như thời cổ đại; nhưng lại vừa có nhiều kẻ trộm cắp cướp bóc, hoành hành thôn xóm, loại ấy thì chẳng khác gì bọn lưu manh thổ phỉ. Nếu nói xã hội bí mật đã đem lại cho võ hiệp một không gian sinh hoạt mới thì võ hiệp lúc này cũng đã biến tướng, không những hiệp, đạo (kẻ cướp) cùng sinh tồn mà “hiệp” và “đạo” còn chuyển hóa lẫn nhau, nhiều người vừa “hiệp” vừa “đạo”.

Như  nhà văn Mạc Ngôn nói rằng:

“Tổ tiên tôi vừa là anh hùng vừa là kẻ cướp”

Ở các thành viên của xã hội bí mật tinh thần nghĩa hiệp thường nhường chỗ cho tính hung bạo. Trình độ tổ chức của các thành viên xã hội bí mật có được nâng cao so với hiệp khách thời cổ nhưng thói quen sinh hoạt lưu lãng giang hồ vẫn không thay đổi, sự tranh đoạt tông phái trong võ lâm càng thêm ghê gớm. Dù bị triều đình nhiều phen tiễu phạt diệt trừ, nhưng xã hội bí mật vẫn phát động nhiều cuộc khởi nghĩa, công kích mãnh liệt nền thống trị chuyên chế và uy hiếp bọn đế quốc thực dân và giáo hội ngoại quốc.

Những hiệp khách võ hiệp thời cận đại

Thời cận đại, vận nước sa cơ, lâm vào nỗi nhục “dưa chia đậu nát”. Chấn hưng võ thuật quốc gia, làm cho quốc gia giống nòi mạnh mẽ đã thành một trào lưu của thời đại. Năm 1910, hiệp khách Hoắc Nguyên Giáp đã sáng lập “Tinh võ quán” ở Thượng Hải, mở ra con đường đi vào đại chúng của võ thuật tinh anh. Từ năm 1928, lập nên một “đả lôi đài” (đài tỉ võ) có tính toàn quốc, các nhà võ thuật nổi tiếng như Hoắc Nguyên Giáp, Vương Tử Bình, Hàn Mộ Hiệp, Sái Long Vân, Tưởng Hạo Tuyền v.v… đã đánh bại các lực sĩ ngoại quốc ngạo mạn. Cuộc tỉ võ mang tính quốc tế đương thời khiến cho đến bà già con trẻ cũng vui mừng, đem lại cho con người Trung Quốc chút an ủi tinh thần trong cảnh phải chịu tủi nhục đã mấy mươi năm.

Ở thời cận đại, hiệp khách cũng tham gia phong trào cách mạng dân tộc dân chủ. Năm 1900, trong quân khởi nghĩa, hội đảng ở vùng Tương, Ngạc (Hồ Nam Hồ Bắc) là bộ phận chủ lực. Đây là cuộc thử nghiệm đầu tiên của sự liên kết giữa những trí thức tiến bộ với giang hồ hào khách để cùng mưu nghiệp lớn. Đồng Minh hội do Tôn Trung Sơn lãnh đạo cũng đã nhiều lần phát động khởi nghĩa vũ trang có sự tham gia của các hội đảng. Sau khi khởi nghĩa Vũ Xương bùng nổ, tỉnh Hồ Nam độc lập, Tiêu Đạt Phong, thủ lĩnh của Hồng Giang hội thậm chí còn làm đến đô đốc, khiến Hồ Nam một thời đã thành trung tâm của võ hiệp toàn quốc. Đảng cách mạng còn có nhiều vị “hiệp khí ngất trời chấn chín châu”, như Ngô Việt vì hành thích 5 đại thần của nhà Thanh mà xương tan thịt nát, như Từ Tính Lân và “Giám hồ nữ hiệp” Thu Cẩn thề tiếp bước Kinh Kha, giết tên Tuần vũ An Huy Ân Minh v.v… Thế nhưng sau khi đảng cách mạng (tức Quốc Dân Đảng) đã nắm được chính quyền thì lại trở mặt, trấn áp hội đảng.

Tại các căn cứ địa cách mạng ở nông thôn, đối với các hội đảng của dân nghèo, đã thực hiện phương châm “cô lập thủ lĩnh, giành lấy quần chúng, giải thể tổ chức” và biên chế lại bộ đội lục lâm, khiến họ trở thành lực lượng vũ trang của cách mạng.

Mao Trạch Đông còn thân tự đến cải tạo bộ đội lục lâm của Viên Văn Tài và Vương Tá ở Tỉnh Cương Sơn, hợp hai cánh quân này thành đoàn 32 của quân đoàn 4 Hồng quân Trung Quốc đồng thời chấn chỉnh thói quen lưu manh và tư tưởng “giặc cỏ” của họ. Sau khi đường lối của Vương Minh chiếm địa vị thống trị trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, các tổ chức hội đảng như “Đại đao hội”, “Huynh đệ hội” cũng bị xếp vào đối tượng bị thanh trừ, Vương Tá, Viên Văn Tài đều bị sát hại. Ở thành phố, Đảng Cộng sản phái đảng viên vào các bang hội hoạt động. Trong thời gian vận động công nhân ở Thượng Hải, Lý Lập Tam đã từng kết thân với một vị thủ lĩnh của bang hội ở gần Tân Giáp Kiều, kết quả là trong “phong trào ngũ tạp” (phong trào 30 tháng 5), những người bảo vệ Lý Lập Tam đều là đồ đệ của “bang xanh”. Trong cuộc tàn sát của Quốc dân đảng trước khi rút khỏi Thượng Hải, thủ lĩnh của bang hội là Hoàng Kim Vinh đã yểm hộ và tiếp tế cho một số đảng viên Cộng sản ở dưới hầm bí mật. Vì thế, mặc dù họ đã từng phạm trọng tội nhưng về sau vẫn được sự khoan hồng của chính phủ.

Từ sau ngày nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, thì có chính sách rõ ràng đối với bang hội, phần lớn thành viên của các bang hội bí mật đã đến cơ quan công an tuyên bố rút khỏi tổ chức bang hội; những bang hội có vũ trang và bọn thổ phỉ thì bị đại quân tiễu trừ.

Từ đó, vấn đề các bang hội và dân lưu vong đã tồn tại lâu dài trong xã hội Trung Quốc, đã căn bản được giải quyết. Võ hiệp và anh em sinh đôi của nó là thổ phỉ, vật ký sinh của nó là lưu dân đều bị tiêu vong.

>> Sở Lưu Hương : Hiệp khách hoàn mỹ -Thế gian khó thấy

Sự tiêu vong của võ hiệp

Sự tiêu vong của võ hiệp có nguyên nhân lịch sử sâu sắc. Võ hiệp vốn là sản phẩm của văn minh nông nghiệp. Sự ra đời của nó trước hết là do mâu thuẫn giữa dân số và ruộng đất. Trong điều kiện kinh tế tự nhiên, dân số không được khống chế, trong thời bình dân số lại tăng nhanh, mà chế độ ruộng đất phong kiến tất nhiên dẫn đến sự tập trung ruộng đất vào tay một số ít địa chủ; dù triều đình có ban bố một số chính sách để hạn chế việc kiêm tính ruộng đất cũng không thể ngăn chặn được một thiểu số địa chủ chiếm đoạt rất nhiều ruộng đất, đa số nông dân không có ruộng cày.

Dân số tăng và nạn kiêm tính ruộng đất đến một độ nhất định, tất nhiên sẽ có hàng loạt nông dân không ruộng đất trở thành những kẻ lưu vong; họ lưu lạc giang hồ tìm lối thoát. Những lưu dân ấy, có người thì bán sức lao động, có người thì buôn bán ngược xuôi, có người đi ăn mày, có người thì làm kẻ cướp; loại giỏi võ công thì giúp người yếu đuối, trừ kẻ cường bạo, hành hiệp trượng nghĩa.

tiêu vong võ hiệp
Sự tiêu vong võ hiệp

Dân lưu vong là nguồn gốc chủ yếu của võ hiệp. Nếu không giải quyết vấn đề lưu dân thì võ hiệp vẫn còn tồn tại. Thứ nữa, kinh tế tiểu nông ở nông thôn và thủ công nghiệp ở thành trấn đều phân tán, như đống cát rời, khiến cho bất kỳ vương triều phong kiến nào cũng không thể xây dựng được một cơ sở chính quyền vững chắc, không có cách gì khống chế được những người tiểu sản xuất. Điều ấy khiến cho “lưới trời lồng lộng, thưa và dễ lọt” (thiên võng khôi khôi, sơ nhi hữu lậu) từ đó mà khiến cho võ hiệp có thể “dùng võ lực mà phạm cấm lệnh”.

Nguyên văn trong sách “Lão tử”: “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu” (lưới trời lồng lộng thưa mà không lọt), người viết đã cố ý chữa chữ “bất” thành chữ “hữu” để diễn đạt tình trạng võ hiệp “lọt lưới” pháp lệnh phong kiến.

Thứ ba là: trong xã hội tông pháp ở Trung Quốc, nhân luân cao hơn pháp luật, người ta quen với ân oán riêng tư không muốn hoặc không biết thủ tục tố tụng ở công đường, pháp lệnh của quốc gia thường chỉ là hình thức, chỉ có đao kiếm của hiệp khách là không từ gian khổ, dám vùng lên để dẹp bất bình.

Thời cận đại, ở Trung Quốc bắt đầu tiến trình công nghiệp hóa, cơ sở xã hội đã có những biến đổi sâu sắc, khí số võ hiệp đã tận. Trước hết, văn minh công nghiệp đã dần dần thu hút lao động dư thừa ở nông thôn vào các công xưởng, từ đó mà tạo ra một lối thoát cho dân lưu vong.

Chỉ cần không còn dân lưu tán thì võ hiệp không còn cơ sở tồn tại, dần dần sẽ tự tiêu vong. Nhưng chúng ta cũng không nên vội lạc quan. Vấn đề dân lưu tán cũng có thể lại xuất hiện. Cuối thế kỷ XX, toàn Trung Quốc có khoảng 300 triệu lao động dư thừa, lìa xa ruộng đất, ở thành phố cũng có nạn thất nghiệp. Giải quyết sao cho thỏa đáng vấn đề này, không để xuất hiện dân lưu tán là một thách thức rất lớn đối với Trung Quốc. Nếu không giải quyết được vấn đề dân lưu tán và thất nghiệp thì hiệp khách và kẻ cướp sẽ chẳng phải là câu chuyện truyền kỳ làm rung động lòng người nữa mà sẽ làm rối loạn đời sống của chúng ta.

Lại nữa, nền kinh tế hiện đại đã làm thay đổi tình trạng đống cát rời của sản xuất nhỏ, sản xuất và đời sống của con người đều được xã hội hóa cao độ, chính đảng và chính trị hiện đại đã quản lý được đến tận các tế bào của xã hội. Hai nhân tố này đã khiến cho Trung Quốc xây dựng được một chính quyền đủ mạnh, có thể kịp thời dập tắt những hành vi “dùng võ lực để phạm cấm lệnh”, thậm chí có thể khiến người ta không nghĩ đến chuyện mạo hiểm nữa.

Ba là việc xây dựng pháp chế dân chủ đã khiến người ta có ý thức tôn trọng pháp luật, ân oán riêng tư cũng có thể đến pháp đình, người yếu kẻ mạnh đều bình đẳng trước pháp luật, đều được pháp luật bảo vệ và chế ước. Những hành vi vung kiếm báo oán trả ân đã dần dần không còn điều kiện.

Hơn nữa, theo đà phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, đao kiếm đâu phải là đối thủ của vũ khí hiện đại, cái dũng của kẻ thất phu đã không còn sức mạnh như xưa nữa.
————–
Văn hoá võ hiệp – Ôn Tử Kiến

Avatar of Chim Én
 | Website

Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội

Leave a Reply