banner web

Lời giới thiệu sách Phẩm Tam Quốc – Dịch Trung Thiên

Phẩm Tam Quốc

Nội dung của Phẩm Tam quốc của Dịch Trung Thiên đã chứa đựng sự mới mẻ, vậy kết cấu của cuốn sách có gì đặc biệt không? Nói đến kết cấu, không thể bỏ qua tính chất phức tạp, rắc rối khó gỡ của giai đoạn này.

Tác giả Dịch Trung Thiên

Dịch Trung Thiên
Dịch Trung Thiên

Dịch Trung Thiên (易中天, Yi Zhongtian, sinh năm 1947 tại Trường Sa, Hồ Nam, Trung Quốc) là sử gia, học giả Trung Quốc.

Ông từng là giảng viên tại Khoa Ngôn ngữ Trung Quốc của Đại học Hạ Môn. Ông tham gia nhiều ngành khoa học, có phạm vi nghiên cứu trải rộng, bao gồm cả văn học, thẩm mĩ, tâm lí học, nhân loại học, sử học.

Ông cũng là một nhân vật nổi tiếng trên truyền hình Trung Quốc, được công chúng biết đến bởi những bài thuyết giảng có phong cách độc đáo, hài hước trong chương trình Bách gia giảng đàn trên kênh CCTV-10, được biệt danh là “siêu nhân của giới học giả”.

Dịch Trung Thiên cũng là tác giả của nhiều tác phẩm học thuật ăn khách, trong đó tác phẩm cùng chủ đề Tam quốc với bài thuyết giảng của ông trên “Bách gia giảng đàn” bán được gần 6 triệu bản tính đến năm 2013, các tác phẩm khác trung bình cũng bán được 70 vạn bản. Ông cũng là diễn giả được mời đến trình bày tại một số buổi thuyết giảng lớn.

Một số tác phẩm của Dịch Trung Thiên như “Phẩm Tam quốc”, “Luận anh hùng”, “Chuyện đàn ông đàn bà Trung Quốc” đã được dịch sang tiếng Việt và xuất bản ở Việt Nam.

Nội dung bài giới thiệu

Ông Đường Chấn Thường trong lời tựa cuốn “Tế thuyết Tam quốc” đã nhận xét:

 “Lịch sử Tam quốc nhân vật đông, sự kiện nhiều, đầu mối phân tán, thứ tự phức tạp, người tìm hiểu lịch sử giai đoạn này như người gỡ bó tơ rối hay xâu tiền rời, phải xuyên suốt tất cả rồi mới xem xét lí do được mất, rất không dễ dàng”.

Vì khó khăn như vậy nên xuất hiện một hiện tượng là

“muốn biết cội rễ thì phải đọc sâu lịch sử, nhưng đọc sâu mà vẫn không hiểu rõ, thậm chí càng đọc thì vấn đề càng nhiều”.

Điều này đòi hỏi người nghiên cứu Tam quốc phải có kỹ năng phân loại tư liệu, xử lý sử liệu, khu biệt phạm vi vấn đề, đặt đúng câu hỏi và đưa ra đúng câu trả lời.

>> Luận về Thiên thời – Địa Lợi – Nhân hoà trong Tam Quốc Diễn Nghĩa

Về mặt này, Dịch Trung Thiên lại có bốn kỹ thuật xử lý nổi bật trong cuốn sách Phẩm Tam Quốc

4 kỹ thuật của Dịch Trung Thiên trong phẩm tam quốc

Thứ nhất, lấy trục ngang (thời gian) làm trục chính, lấy trục dọc (nhân vật, sự kiện) để bổ sung. Với những chỗ cần tóm gọn, ông lướt qua rất nhanh; nhưng với những chỗ cần làm rõ căn nguyên, ông cũng không tiếc chữ. Chẳng hạn, chương 8 kể lại xung đột Tào Tháo – Trương Tú ở Uyển thành, nhưng cùng lúc cũng khắc họa một chân dung mưu sĩ độc đáo là Giả Hủ.

Chương 32 thuật về xung đột Lưu Bị – Tôn Quyền về quyền sở hữu Kinh châu, cũng đồng thời làm rõ vấn đề địa lý, hành chính của Kinh bắc, Kinh nam, qua đó làm rõ nghi án “mượn Kinh châu”, xác định “ai đã mượn”, “ai phải trả”, “trả cái gì”.

Xuyên suốt 48 chương sách, người đọc cũng nhờ vậy mà vừa nắm được diễn biến (theo thời gian), vừa thấu được toàn cảnh (nhân vật và sự kiện trong mỗi thời điểm).

Thứ hai, chia nhỏ vấn đề. Các vấn đề trong Tam quốc đâu chỉ có phức tạp, mà phải nói là quá nhiều đầu mối đan xen nhau, quá nhiều khía cạnh chồng lấn nhau, quá nhiều nhân vật xung đột nhau, nên chia nhỏ vấn đề là cách xử lý hay nhất.

Ví dụ, chương 37 đề cập đến quan hệ vua tôi giữa Lưu Thiện và Gia Cát Lượng, đã lần lượt đặt ra và trả lời bốn câu hỏi then chốt:

Một, “Lưu Thiện có tuân theo di chúc của Lưu Bị không?”

Hai, “Cảm nghĩ của Lưu Thiện thế nào?”

Ba, “Vì sao Lưu Thiện khó chịu?”

Bốn, “Vì sao Gia Cát Lượng không chịu trả lại quyền hành cho Lưu Thiện?”

Dịch Trung Thiên sau khi chia nhỏ và giải quyết từng vấn đề một, thì còn lật đi lật lại vấn đề đến lần thứ hai, thứ ba, thử thay đổi góc nhìn từ Lưu Thiện và từ Gia Cát Lượng để tìm ra chân tướng xác thực, thể hiện tinh thần nghiên cứu nghiêm túc chứ không hề làm lấy lệ, qua loa.

Thứ ba, phân tích thông qua so sánh. Nói đến cách dùng người của Tào Tháo, Dịch Trung Thiên cũng khéo léo nhắc đến cách đối nhân của Viên Thiệu, qua đó chỉ ra thất bại của Viên Thiệu ở trận Quan Độ là khó tránh. Nhắc đến mưu trí của Quách Gia, ông cũng dẫn dắt đến Gia Cát Lượng, từ đó đánh giá cống hiến của hai mưu sĩ kiệt xuất này đối với hai tập đoàn Tào, Lưu.

Tôn Sách có biệt hiệu “Tiểu Bá vương”, Dịch Trung Thiên bèn so sánh điểm được và chưa được giữa Tôn Sách và Hạng Vũ. Có thể thấy, Dịch Trung Thiên thường không phân tích một cách đơn lẻ, thay vào đó ông đặt con người, vấn đề hoặc sự kiện vào trong một hoặc nhiều bối cảnh tương đồng để từ đó có những đánh giá khách quan hơn.

Thứ tư, dùng hình ảnh ẩn dụ sinh động, dí dỏm. Hãy nghe Dịch Trung Thiên dùng góc nhìn của Quan Vũ để đánh giá quân đội Đông Ngô:

“Lần này Quan Vũ mắc lừa thật. Ông ta cho rằng bên Đông Ngô đúng là đời sau kém hơn đời trước. Ban đầu, tướng lĩnh cầm quân là Chu Du. Đó là một người hùng tài nhẫn tâm, đáng tiếc không thọ, là “con ma vắn số”. Chu Du chết, đổi thành Lỗ Túc, tuy cũng rất tài giỏi nhưng chỉ là một “tổ trưởng hòa giải”. Lỗ Túc chết, đổi thành Lã Mông, tuy cũng là một viên chiến tướng nhưng là “con mèo ốm”. Bây giờ đổi thành Lục Tốn, chẳng có tiếng tăm, lại còn là “con mọt sách”. Xem ra bên Tôn Quyền quả thực hết hy vọng rồi, không đáng lo ngại. Thế là Quan Vũ bắt đầu từng bước điều quân đến Phàn Thành…”

Đọc đoạn văn này, tôi tin độc giả tuy buồn cười nhưng vẫn hiểu rõ được tại sao Quan Vũ lại tự tin tiến quân lên phía bắc. Một góc nhìn với bốn hình ảnh ẩn dụ đủ làm chúng ta hiểu tường tận cái nhìn chủ quan của nhà Thục trước chiến dịch Tương Phàn.

Phẩm Tam Quốc

Phẩm Tam Quốc – Dịch Trung Thiên

Mặc dù vậy, không phải là không có những hạn chế trong các lập luận của Dịch Trung Thiên. Chẳng hạn ông không thể hiểu được vì nguyên nhân gì dân Kinh châu bỏ chạy theo Lưu Bị trốn khỏi Tào Tháo. Ông cho rằng Tào Tháo đã biết “rút kinh nghiệm” sau lần đồ sát ở Từ châu và sẽ không làm chuyện tương tự ở Kinh châu, nhưng ông quên mất rằng người dân Kinh châu đâu có biết Tào Tháo thật sự nghĩ gì trong đầu?

Họ nhìn xác dân Từ châu tắc nghẽn cả dòng Tứ thủy mà hoảng sợ trốn chạy là chuyện dễ hiểu! Một ví dụ khác là khi phê phán năng lực cầm binh của Gia Cát Lượng, ông lại trích dẫn lời chê bai của Tư Mã Ý. Theo logic thông thường, khi đã ở vị trí đối đầu với Gia Cát Lượng, Tư Mã Ý khó có thể đưa ra đánh giá khách quan về đối thủ. Dịch Trung Thiên cũng đã bỏ qua ngữ cảnh (Tư Mã Ý nói trong lá thư gửi em trai Tư Mã Phu), vốn là thứ có thể làm giảm tính khách quan của phát biểu.

Như vậy, chúng ta đã có phương pháp bình giải đủ nghiêm cẩn, nội dung và đề mục đủ mới mẻ, kỹ thuật trình bày đủ hiệu quả, và cả những quan điểm gây tranh cãi trong cuốn sách này. Có điều, theo tôi những điểm ấy chưa phải là điểm ấn tượng nhất của Phẩm Tam quốc.

Phẩm Tam quốc có ít nhất bốn điểm nổi bật

Điểm thứ nhất

Cuốn sách giải quyết được các “nghi án” lớn thời Tam quốc. Đúng như lời của tác giả, “nền chính trị thời Trung Quốc cổ đại là một nền chính trị bí mật tiến hành trong hộp đen, những tư liệu được công bố thường chưa chắc đã thể hiện được chân tướng sự việc, thậm chí còn che đậy chân tướng”.

Vì vậy, người đọc tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa thường cảm thấy cái chết của Ngụy Diên là oan ức (có ai lại bị nghi mưu phản chỉ vì một cái xương sau gáy), người đọc chính sử Tam Quốc Chí của Trần Thọ cũng không khỏi nghi hoặc trước thất bại Tương Phàn của Quan Vũ (không có chỉ thị mà vẫn xuất binh, thắng nhanh mà bại cũng nhanh, Thục Hán không người tiếp viện). Không dám nói là toàn bộ, nhưng Phẩm Tam quốc đã phân tích, lí giải được một phần lớn những vấn đề còn tồn nghi: từ chuyện tại sao Tào Tháo để cho Lưu Bị tự do rời khỏi Tào doanh, quy mô và diễn biến của trận Xích Bích, cho đến vấn đề “mượn Kinh châu”, bản chất xung đột Lý Nghiêm – Gia Cát Lượng, hay bí ẩn về cái chết của Tuân Úc.

Điểm thứ hai

Cuốn sách làm rõ những chỗ hư cấu quan trọng trong tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa so với chính sử. Nếu bỏ qua những hư cấu này, rất có thể độc giả sẽ đóng đinh vào đầu “hình tượng văn học” mà bỏ qua “hình tượng lịch sử”. Chẳng hạn, ai đọc Tam quốc đều biết lời bình nổi tiếng của Hứa Thiệu về Tào Tháo

“Năng thần đời trị, gian hùng đời loạn”;

nhưng ít ai biết La Quán Trung đã gia giảm, thêm bớt ra sao từ các sử liệu như Dị đồng tạp ngữ của Tôn Thịnh hay Hậu Hán thư của Phạm Việp. Hóa ra, tiểu thuyết gia họ La đã chỉnh sửa phần đuôi của câu chuyện, sử dụng câu nói “tôi giỏi thời bình, gian hùng thời loạn” của Tôn Thịnh, song lại sửa phản ứng của Tào Tháo từ “cười lớn” thành “vui lắm”, đã gián tiếp tạc nên hình tượng “gian hùng” của họ Tào đóng đinh vào lòng độc giả cả trăm năm, đến nỗi nhà bình luận Mao Tôn Cương cũng phải thốt lên rằng

“Nghe người ta bảo mình là gian hùng mà Tháo mừng, thì cái mừng ấy thật là ác, thật là hiểm”.

Quả thật, La Quán Trung cắt một đoạn, sửa một chữ (từ “cười” thành “mừng”), đã khiến Tào Tháo mang cái tiếng “gian hùng” cả đời (dĩ nhiên sau này Tào Tháo vẫn là gian hùng, nhưng lúc đó thì chưa). Cái hay của Dịch Trung Thiên là đối chiếu, so sánh để truy ngược lại quá trình xử lý của tiểu thuyết gia, từ đó làm rõ ý đồ sáng tác và giúp người đọc đến gần hơn với chân diện mục của lịch sử.

Phẩm Tam Quốc
Phẩm Tam Quốc

Điểm Thứ ba

Cuốn sách cung cấp nhiều thông tin chi tiết về quan chế cuối thời Đông Hán, giải nghĩa nhiều khái niệm ít gặp, qua đó giúp người đọc hiểu hơn về bối cảnh của mỗi sự kiện, hành trạng của mỗi nhân vật và tầm vóc của mỗi quyết sách. Hiểu vai trò của các chức vụ “Lạc Dương Bắc bộ úy”, “Kỵ đô úy”, “Thái thú Đông quận”, “Duyện châu mục” thì mới hình dung được con đường thăng tiến của Tào Tháo trong buổi đầu lập nghiệp. Biết thế nào là “đồn điền”, “quân đồn”, “dân đồn” mới có thể lí giải tại sao chính sách đồn điền lại giúp tập đoàn Tào Ngụy phát triển mạnh mẽ. Và nhờ hiểu các thông lệ trong việc kế vị (lập đích, lập trưởng, lập hiền, lập ái), người đọc sẽ dễ dàng nắm bắt được diễn biến cuộc tranh giành giữa Tào Thực và Tào Phi, cũng như có thể nhìn ra sai lầm của Viên Thiệu và Lưu Biểu trong việc chọn người nối nghiệp.

Điểm Thứ tư

Cuốn sách giới thiệu thêm nhiều gương mặt nhân vật Tam quốc với những vai trò quan trọng bất ngờ – mà vì nhiều lí do lại không quá nổi bật trong Tam Quốc Diễn Nghĩa – chẳng hạn như Đổng Chiêu, người có tác dụng mấu chốt trong việc đưa Hán Hiến đế về Hứa Xương, giúp Tào Tháo hoàn thành trọn vẹn kế hoạch “phò thiên tử lệnh kẻ không thần phục”. Hoặc như Điền Phong, Thư Thụ tuy khá quen thuộc với người yêu Tam quốc; nhưng không nhiều người biết họ cũng đã từng đề xuất kế hoạch “phò thiên tử” cho Viên Thiệu. Một ví dụ khác là mãnh tướng Cam Ninh, ít ai biết rằng sau Lỗ Túc thì chính Cam Ninh là người đã đề xuất kế hoạch “Long Trung đối phiên bản Đông Ngô” cho Tôn Quyền. Những gương mặt này xứng đáng chiếm một vị trí đặc biệt trên tấm bản đồ bình giải Tam quốc…

(Trích Lời giới thiệu sách Phẩm Tam Quốc)

>> Dịch Trung Thiên : Bàn về Chu Du trong chính sử

luandamtq

Avatar of Chim Én
 | Website

Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội

Leave a Reply