banner web

Tưởng Uyển : Người thay Khổng Minh cầm binh quyền

Tưởng Uyển

Tưởng Uyển là quyền thần đời thứ hai của chính quyền Thục Hán, người nối nghiệp Gia Cát Lượng. Năm 234, thừa tướng Gia Cát Lượng mất ở gò Ngũ Trượng, Tưởng Uyển trở thành Thượng thư lệnh, sau lên chức Hành đô hộ, cầm giả tiết, kiêm lĩnh thứ sử Ích Châu. Đến năm 235, Tưởng Uyển chính thức cầm nắm toàn bộ quyền lực với chức Đại tướng quân, Lục thượng thư sự, tước An Dương hầu. Năm 239, gia phong Đại tư mã, thống lĩnh cả quân lẫn chính.

Tưởng Uyển là ai ?

Ấn tượng của mọi người về Tưởng Uyển như thế nào? Thường sẽ là hai chữ: Mờ Nhạt. Nếu được nhắc nhiều, thì sẽ có thêm một chút, thì sẽ là: Người thành thật, chỉ biết kế thừa người đi trước như cái máy, hiền lành, không đi theo con đường “hiếu chiến” của Khổng Minh?

Mặt khác, mọi người đều biết, sau thời Gia Cát, Khương Duy trải qua một thời gian dài không cầm quân. Đến thời Phí Y, Khương Duy bị chèn ép, cầm quân không quá vạn, nên đánh toàn thua (!?) Từ đó suy ra logic rằng Khương Duy bị chèn ép cả thời Tưởng Uyển cầm quyền (?)

Nhưng sự thực có phải như vậy không? Thục Hán thời gian này có thực sự “im ắng” như ta tưởng tượng?

Là người được Gia Cát Lượng lựa chọn kế nghiệp, Tưởng Uyển không phải là người hiền lành gì.

Năm 234, khi Gia Cát mất, Ngụy, Dương tranh quyền, thay vì lựa chọn đại tài khó khống chế Ngụy Diên, Tưởng Uyển quyết đoán hùa theo Phí Y, Dương Nghi, xử đẹp Diên, ngăn cho gã “cuồng tướng” đem quân đi “tự sát”, bảo lưu được thực lực cho quốc gia.

Sau đó, triều đình phát tang, người người rầu rĩ, kẻ kẻ khóc gào thê thảm, như sắp mất nước đến nơi. Bối cảnh này rất dễ để những kẻ “thân tại Hán doanh, tâm tại Ngụy” như Đỗ Quỳnh, Tiều Chu lợi dụng. Nhưng Tưởng Uyển phá vỡ nguy cơ này nhanh chóng bằng kỹ thuật diễn siêu đẳng: Uyển thân đại vị cao, không thấy ưu thương, không thấy vui vẻ, cử chỉ như thường, người người theo phục.

Tưởng Uyển : 12 năm làm tể tưởng và cầm quyền

Tưởng Uyển
Tưởng Uyển

Trong giai đoạn 12 năm nắm trong tay đỉnh cao quyền lực, Tưởng Uyển được ca ngợi là chuyên tâm quốc chính, thái độ trung dung, thường hay tổng kết kinh nghiệm của tiền nhân để áp dụng vào thực tế. Và những kinh nghiệm này bao gồm cả kinh nghiệm Bắc phạt.

12 năm cầm quyền, Tưởng Uyển ba lần điều quân, và cả ba lần đều không được thành quả gì. Có lẽ, đây là một phần lý do khiến cho các hoạt động quân sự thời Tưởng Uyển nắm quyền ít người biết đến.

Nhưng không chỉ có thế, so với Gia Cát Lượng và Phí Y, thì Tưởng Uyển xứng đáng vô cùng với 4 chữ “dụng binh thận trọng”. Nếu như mỗi lần Bắc phạt của Gia Cát Lượng là một canh bạc thì Tưởng Uyển ở mặt này đúng là một người tay cầm quân bài tốt mà cứ run run, giữ khư khư trong tay mình để rồi không kịp hạ, dẫn đến thua cả ván.

Ngay năm đầu tiên sau khi cầm quyền, năm 235, Tưởng Uyển phái Mã Đại cầm quân đánh Ngụy. Không rõ Mã Đại cầm quân nhân số bao nhiêu, đánh địa điểm nào. Kết quả đây là lần xuất quân thất bại. Mã Đại bị Ngưu Kim, lúc này vẫn còn là thuộc cấp của Tư Mã Ý, là một tướng lĩnh vô danh đẩy lui, chém 1.000 thủ cấp. Đây cũng là dấu ấn gần như duy nhất của Mã Đại trong lịch sử.

Người chém đầu Nguỵ Diên

Thật lạ là chỉ 1 năm sau khi chém Ngụy Diên vì tội tự ý cầm quân đánh Ngụy, thì Tưởng Uyển lại phái Mã Đại với một số lượng quân cơ bản không lớn (Ngưu Kim năm 231 chỉ cầm một ít kỵ binh nhẹ tham chiến Kỳ Sơn, chứng tỏ quân chức không cao), để rồi thua khá thảm.

Tấn công đất Nguỵ

Năm 236, Đê vương ở Vũ Đô là Phù Kiện đầu hàng, Tưởng Uyển phái tướng Trương Úy dẫn quân vào đất Ngụy hộ tống. Trải qua nhiều ngày không có động tĩnh, phải nhờ Trương Ngực trấn an, Tưởng Uyển mới lại có kiên nhẫn chờ đợi. Kết quả là Phù Kiện chỉ dẫn một nửa bộ chúng quy thuận, nửa còn lại hàng Ngụy. Đây không phải cuộc chiến, nhưng kết quả thì thể hiện rõ sự lép vế.

Rút sợi dây kinh nghiệm, với tư duy đánh Lương Châu quá khó, ta thu hồi trọn vẹn đất Ích Châu, Tưởng Uyển lên kế hoạch tấn công ba quận phía đông Hán Trung là Ngụy Hưng, Tân Thành, Thượng Dung. Ba quận này chính là nơi Mạnh Đạt nắm giữ khi trước. Với địa hình khó thủ khó công, mảnh đất này tương đối thuận lợi để cất quân Tương Dương, cũng như phối hợp với quân Ngô.

Năm 238, Tưởng Uyển dời mạc phủ ra Hán Trung, lấy Bộc xạ Lý Phúc làm Tả giám quân, Phụ Hán tướng quân Khương Duy làm Hữu giám quân, di chuyển đại quân, sẵn sàng ra trận. Tuy nhiên, kế hoạch không theo kịp biến hóa, Tưởng Uyển mắc bệnh nặng, không thể chỉ huy quân đội. Kế đó, Tả giám quân Lý Phúc ốm chết trên đường. Trong triều đình, âm thanh phản đối bắt đầu nhiều lên. Kết cục, chưa đánh đã lui.

Kế hoạch đánh Thượng Dung vẫn không làm nao núng Tưởng Uyển. Năm 242, Tưởng Uyển tiếp tục rút kinh nghiệm. Nhận thấy đánh Thượng Dung không khả thi, lần này Tưởng Uyển quyết tâm kế thừa kế hoạch bắc phạt Ung Lương của cố thừa tướng Gia Cát Lượng.

Năm 243, thu được sự ủng hộ gần như tuyệt đối của triều đình, Tưởng Uyển cho quân đội ra đóng ở huyện Phù, chuẩn bị tiến lên Hán Trung. Nhưng lần nữa bệnh tật lại kéo đến. Trước tình thế đó, Tưởng Uyển lấy Khương Duy làm Trấn tây đại tướng quân, lĩnh thứ sử Lương Châu.

Phí Y lên thay Tưởng Uyển

Trong khi đó, lấy cớ Tưởng Uyển bệnh tật, triều đình lấy Phí Y thay chức Đại tướng quân. Tưởng Uyển chỉ còn giữ chức Đại tư mã, mất đi quyền khống chế quân đội. Kết cục, đã không có cuộc chiến nào diễn ra cả.

Tưởng Uyển qua đời – Khương Duy lên thay

Năm 246, sau nhiều năm bị bệnh tật hành hạ, ông qua đời. Chung thân chưa thể tiến hành được một lần bắc phạt.

Sau khi Tưởng Uyển chết, quyền lực triều đình được chia đôi cho Khương Duy và Phí Y, cả hai đều hành thượng thư sự. Tuy nhiên, Khương Duy không phải là đối thủ của Phí Y. Phí Y cũng vì thế mà làm ra nhượng bộ, thay vì tiến hành bắc phạt quy mô lớn, thì giao cho Khương Duy một ít quân, nhằm bình định các dân tộc du mục ở phía tây và phía bắc Ích Châu.

Và cuối cùng, khi nhìn lại, rốt cuộc, Tưởng Uyển liệu đã xứng đáng là người kế thừa Gia Cát Lượng chưa? Thật khó nói.

>> Chiến dịch Bắc Phạt : Gia Cát Lượng hay Nguỵ Diên đúng

3 người còn lại là trụ cột của nhà Thục Hán

4 đại thần nhà Hán
4 đại thần nhà Hán sau thời Khổng Minh

Ngoài Tưởng Uyển thì còn 3 người nữa, chèo lái nước Thục thêm 30 năm sau khi Khổng Minh chết gồm Phí Y, Đổng Doãn, Khương Duy

Phí Y

Phí Y (? – 253), có tài liệu dịch là Phí Vĩ hay Phí Huy, là một quan lại cao cấp của chính quyền Thục Hán trong thời kỳ Tam Quốc.

Sau khi Tưởng Uyển qua đời, ông đã được giao lại vị trí nhiếp chính cho Hậu chủ Lưu Thiện. Cũng bởi vậy mà nhân vật này được xem như người kế nghiệp tiếp theo của Gia Cát Khổng Minh và Tưởng Uyển.

Sinh thời, Phí Y được đánh giá là một nhân tài hiếm có trong việc xử lý các vấn đề nội chính và công tác ngoại giao.

Các tài liệu lịch sử chính thống không đề cập tới việc tài năng của ông được Gia Cát Lượng phát hiện trong hoàn cảnh nào, chỉ biết rằng khi Khổng Minh trở về từ sau công cuộc nam chinh thì đã nhìn nhận vị quan ho Phí là một nhân tài trẻ tuổi rất có năng lực.

Năm xưa khi Gia Cát Lượng còn tại thế, ông đã từng phái Phí Y đi sứ nước Ngô để đàm phán cùng Tôn Quyền. Tài thương thuyết của viên quan này khi đó thậm chí đã khiến cho vị quân chủ Đông Ngô cũng phải tán dương hết mực.

Những khoảng thời gian không phải đi sứ, Phí Y thường là một trong những thân tín kề cận và cùng Gia Cát Lượng vạch ra các chiến lược quân sự.

Về tính cách của vị đại thần này, sử cũ miêu tả Phí Y là một người cư xử hòa nhã và luôn coi trọng việc giữ hòa khí. Ông cũng là nhân vật thường đứng ra hòa giải các vấn đề xung đột giữa Ngụy Diên và Dương Nghi để duy trì sự ổn định trong nội bộ triều đình.

Cùng với Tưởng Uyển, Phí Y cũng là một trong số những nhân tài được Gia Cát Lượng tiến cử với Lưu Thiện thay thế công việc phụ chính của mình trước lúc vị Thừa tướng này qua đời.

Trong thời gian Tưởng Uyển lâm trọng bệnh, Phí Y đã được vị đại thần này chuyển giao hầu hết chức trách.

Chẳng những có tài quản lý các công việc nội chính, vị quan họ Phí cũng là một nhân vật không thể coi thường trên phương diện quân sự.

Năm 244, quan Nhiếp chính của nước Ngụy là Tào Sảng dẫn quân tấn công Hán Trung. Chính Phí Y đã là người chỉ huy quân đội chống lại Tào Sảng và đánh bại quân Ngụy trong trận chiến này.

Sau khi Tưởng Uyển qua đời vào năm 246, ông đã chính thức trở thành nhiếp chính của triều đình Thục Hán.

Đổng Doãn

Đổng Doãn (? – 246), tự Hưu Chiêu, là con của đại thần Đổng Hòa nhà Thục Hán.

Vào thời điểm Lưu Thiện được lập làm Thái tử, Đổng Doãn cũng được tuyển làm Xá nhân với nhiệm vụ theo hầu dắt ngựa. Tới năm 223 khi Tiên chủ qua đời, Lưu Thiện kế vị, ông được Tân đế phong làm Hoàng Môn thị lang và tiếp tục thăng chức trong những năm sau đó.

Mặc dù chưa từng một lần được giữ ngôi vị Thừa tướng, nhưng ông vẫn được xem là người điều hành triều chính có uy tín đương thời. Người nước Thục khi ấy thường gọi Gia Cát Lượng, Tưởng Uyển, Phí Y cùng Đổng Doãn là “Tứ Anh đệ nhất hào kiệt”.

Sinh thời, Đổng Doãn được đánh giá là người hết sức chính trực và cũng vô cùng ngay thắng. Ông cũng là một vị quan chuyên tâm làm việc, coi trọng đạo lý, chưa bao giờ tỏ vẻ xu nịnh mà còn thường xuyên can gián quân chủ trong nhiều vấn đề.

Năm xưa Lưu Thiện thường muốn tuyển thêm mỹ nữ sung vào hậu cung, Đổng Doãn đã thẳng thắn nêu lại tấm gương của các vị thiên tử cổ đại với hậu cung chẳng quá 12 người, từ đó khuyên răn quân chủ không nên tăng thêm số lượng phi tần.

Một trong những vấn đề khác mà Đổng Doãn từng nhiều lần nhấn mạnh với Lưu Thiện chính là không nên quá tin dùng hoạn quan.

Về việc Lưu Thiện sủng ái thái giám Hoàng Hạo, ông trước thường nghiêm mặt khuyên chủ, sau lại trách mắng Hạo, khiến cho thái giám này kính sợ vô cùng.

Cũng do sức ảnh hưởng của ông cùng sự nể trọng từ phía quân chủ nên khi vị quan này còn tại thế, Lưu Thiện dù ít nhiều có tin dùng thái giám nhưng cũng không làm gì quá chừng mực, mà chức vị của Hoàng Hạo trong giai đoạn ấy cũng không có quá nhiều quyền hành.

Tới năm 246, Đổng Doãn qua đời sau hơn hai thập kỷ phục vụ cho chính quyền nhà Thục Hán. Sự ra đi của ông đã khiến cho bè lũ hoạn quan được đà làm bậy, cơ nghiệp Thục quốc cũng vì vậy mà càng trượt dài trên đà diệt vong.

>> Gia Cát Lượng : Làm năng thần mệt quá

Khương Duy

Khương Duy (202 – 264) là một đại tướng nhà Thục Hán dưới thời Tam Quốc.

Trước khi về đầu quân cho tập đoàn chính trị này, ông từng có thời gian phục vụ dưới trướng nhà Tào Ngụy trong vai trò tùy tướng. Sau đó, ông theo Gia Cát Lượng về Thục và để lại mẹ ở đất Ngụy.

Khi Khổng Minh tiến hành Bắc phạt, ông từng nhiều lần đi theo, từ đó dần được coi trọng và nhanh chóng thăng tiến.

Sau khi vị Thừa tướng này qua đời, Khương Duy vẫn tiếp tục được trọng dụng và cuối cùng trở thành phụ tá cho phụ chính đại thần Phí Y.

Sau khi Phí Y qua đời, Khương Duy tuy có kế chức nhưng không giữ nhiều quyền hành như người tiền nhiệm của mình mà chỉ tập trung vào quyền lực quân sự.

Mặc dù đã cố gắng kế thừa sự nghiệp Bắc phạt của Gia Cát Lượng, tuy nhiên 9 lần đánh Ngụy của Khương Duy nhìn chung không đem lại kết quả như mong muốn và cũng làm tiêu hao không ít tài lực, nhân lực của Thục Hán.

Năm 263 dưới sự tấn công của Tào Ngụy, Hậu chủ Lưu Thiện đã quyết định đầu hàng, đánh dấu sự kết thúc của cơ nghiệp Thục Hán.

Trước bối cảnh ấy, Khương Duy ban đầu đã dùng kế trá hàng với mong muốn có ngày phục hưng lại Thục quốc. Chỉ tiếc rằng thời thế khi ấy đã chẳng còn ưu ái cho hoàng tộc họ Lưu, và bản thân vị tướng ấy cuối cùng vẫn phải nhận kết cục bi thảm.

Giờ đây mỗi khi nhận định về nhân vật này, nhiều người vẫn cho rằng Khương Duy tuy xuất thân là tướng nước Ngụy nhưng lại dành cả cuộc đời mình để tận tụy với nhà Thục Hán.

Ông có tài kiêm văn võ, có chí lập công danh, cả đời lại cần cù tiết kiệm, chẳng những sở hữu phong thái có mấy phần tương tự Gia Cát Lượng mà còn kế thừa chí lớn của vị Thừa tướng này.

Cũng bởi vậy mà có ý kiến cho rằng, nếu bối cảnh lịch sử khi ấy đứng về phía Khương Duy, rất có thể số phận của nhà Thục Hán đã được viết lại theo một cách khác…

luandamtq

Avatar of Chim Én
 | Website

Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội

Leave a Reply