banner web

Những đề tài chính của triết học hiện sinh

đề tài triết học hiện sinh

Đề tài duy nhất của triết học hiện sinh là con người tại thế, con người cả vị với những điều kiện sinh hoạt nhất định và định mệnh độc đáo của mỗi người. Rồi con người hiện sinh, tức là nhân vị đó, được chiêm nghiệm dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Và đó là những đề tài mà chúng ta gặp luôn luôn trong các tác phẩm của các triết gia hiện đại. ( Bài viết được trích từ Chương 2. những đề tài chính của triết hiện sinh trong cuốn Triết học hiện sinh của giáo sư Trần Thái Đỉnh)

Nhiều học giả đã gọi các đề tài này bằng danh từ phạm trù (catégories) với ý rằng các triết gia hiện đại không bao giờ suy tưởng điều gì ngoài những đề tài căn bản đó.

Triết học Aristote

Chữ phạm trù có từ đời Aristote. Ông này chủ trương triết học về thiên nhiên, nên dưới mắt ông vạn vật chỉ có thể đứng vào trong mười loại sự kiện này (tức mười phạm trù Aristote): Trước hết sự vật có thể là bản thể hay tùy thể. Bản thể là chủ thể, còn tùy thể là những thuộc tính.

Thí dụ thằng Ba ngủ; thằng Ba là chủ thể, và ngủ là tùy thể. Như vậy tùy thể là tất cả những gì người ta có thể quy về chủ thể: Cho nên có chín tùy thể sau đây: Lượng tính, phẩm tính, tương quan, hành động, thụ động, vị trí, thời gian, không gian, thái độ. Cho nên thằng Ba nó mập, lười, không ưa chơi với thằng Năm, hay nói nhảm, thường bị thầy giáo phạt, trước mặt anh em bạn; như buổi học sáng qua, trong lớp nhì trường Bình Lợi, nó khóc: Đó là những thí dụ về tùy thể.

Theo Aristote, vạn vật không thể có một điều kiện sinh hoạt nào ngoài mười điều kiện trên đây mà ông gọi là phạm trù. Vì thế chữ phạm trù đồng nghĩa với chữ nhất thiết. Tất cả sinh hoạt của một sự vật hoặc của một người, nhất thiết phải là một trong mười sự kiện kia.

Triết học Kant

Bước sang thời triết học nêu cao trí thức, Kant đã bỏ rơi mười phạm trù của Aristote và đưa ra mười hai phạm trù mới. Vì theo Kant, chủ quyền phán đoán không thuộc về thiên nhiên nữa, nhưng thuộc về trí năng của ta (đó là cái ông gọi là cuộc cách mạng Copernic của ông, theo đó thì vạn vật buộc phải xuất hiện theo những thể thức phán đoán của ta). Để ý một chút, ta thấy Kant chỉ giữ lại ba tùy thể trên dương tính, phẩm tính, tương quan), và ông đặt ra một loại mới để trùm lên trên sáu tùy thể còn lại: Đó là phạm trù hình thái (modalité). Dưới đây là bảng các phạm trù của Kant.

I.Lượng tính
Nhất thể tính.
Đa thể tính
Toàn thể tính

II. Phẩm tính
Thực tại tính
Phủ định tính
Hạn định tính

III. Tương quan
Chủ thể và tùy thể
Nguyên nhân và hậu quả
Cộng đồng giữa nguyên và bị.

IV.Hình thái
Khả hữu – Bất khả hữu
Hiện hữu – Bất hiện hữu
Tất hữu – Bất tất.

>> Immanuel Kant : Chủ thể nhận thức trong triết học

Immanuel Kant
Immanuel Kant

Xem thế đủ biết, triết của Kant đưa chúng ta vào lãnh vực duy tâm. Nhất thể tính, thực tại tính, khả hữu tính v.v… quả thực chúng ta đã bỏ rơi sự sống của thực nghiệm để hướng về thế giới của “duy tâm suy nghiệm” (idéalisme transcendental), danh từ do Kant đặt ra để gọi triết thuyết của ông. Nhìn vào một sự vật tôi quan niệm, tôi thấy nó có thể là một (nhất thể tính), là nhiều (đa thể tính), hoặc là duy nhất trong loại nó (toàn thể tính). Nó có thực (thực tại tính), hay hiện nay không có tí nào như tôi quan niệm về nó (phủ định tính), hoặc chỉ có một cách nào đó thôi (hạn định tính). Tóm lại, Kant chỉ chú trọng về tính chất những phán đoán của tri năng ta mà thôi: Chính phẩm tính của mỗi phán đoán làm nên bộ mặt của mỗi phạm trù.

=> Với Aristote, triết học coi vũ trụ vạn vật là mô phạm, nên tri thức con người phải uốn mình theo những phạm trù của vạn vật. Trái lại, với Kant, tri thức con người là mô phạm, và vạn vật chịu quyền chi phối của tư tưởng.

Quan niệm triết học hiện sinh

Với triết hiện sinh, người ta xóa bỏ tất cả hai loại phạm trù trên đây. Duy vật và duy tâm đều không phản ảnh đúng sự thật. Triết hiện sinh chối bỏ cả hai cái nhìn đó và chủ trương rằng: Con người không phải là một sự vật của vũ trụ như chủ trương của Aristote, và cũng không phải một tư duy đứng ngoài vũ trụ lấy vũ trụ làm đối trọng quan sát như chủ trương của Kant và nhóm duy tâm đã nghĩ một cách sai lầm; đối với triết hiện sinh, con người không phải là một thành phần của vũ trụ như các thành phần khác, vì con người là chủ thể duy nhất có ý thức về mình, – đàng khác con người không thể là một tư duy có khả năng suy tưởng một cách siêu nghiệm và tiên nghiệm.

Triết học hiện sinh - Trần Thái Đỉnh
Triết học hiện sinh – Trần Thái Đỉnh

Nói cách khác, chỉ có con người tại thế, không có con người nội tại như chủ trương của duy tâm. Như vậy, thế giới là môi trường sinh hoạt tự nhiên và cần thiết của con người: Tuy nhiên vũ trụ chỉ là chỗ đứng chân, là môi trường sinh hoạt của con người mà thôi, không phải cái chi thần thánh để con người chiêm ngưỡng.

Chúng tôi cần trình bày sơ qua những phạm trù của triết học cổ truyền và triết học cổ điển để dễ bề tìm hiểu những phạm trù của triết hiện sinh. Triết nào có phạm trù nấy. Triết hiện sinh tất sẽ chỉ chú trọng đến những vẻ đặc sắc của hiện sinh. Đây không còn là những phạm trù trừu tượng như trên kia nữa, nhưng là những sắc thái đậm đà cuộc sinh hoạt bi đát của chúng ta.

Đâu là những phạm trù hiện sinh?

Các triết gia hiện sinh nhằm quan sát cuộc sinh hoạt cụ thể của con người thời đại, nên những phạm trù của mỗi triết gia thường không giống phạm trù của triết gia khác. Tuy nhiên có một số đặc tính được tất cả các triết gia hiện sinh đề cao, tức là những sắc thái đặc biệt sau đây của cuộc sinh hoạt mỗi người chúng ta.

Cuộc đời của đa số người ta đều mang vẻ tầm thường, buồn nôn; cuộc đời đó là một phóng thể, vì thế cần thiết chúng ta phải tỉnh ngộ, ý thức về giá trị cao quí của nhân vị mình: Do đó sinh ra ưu tư, tuy nhiên sống là vươn lên, vươn lên mãi, bởi vì dừng lại là tự đặt mình vào cảnh chết của tinh thần; đàng khác, cuộc đời là một thử thách, đòi ta phải sáng suốt để quyết định, tự quyết.

Trong tất cả mọi hành động đó, tôi không thể ỷ lại vào người bên cạnh, lấy họ làm gương mẫu: Tôi không được làm thế, vì mỗi nhân vị là một độc đáo: Thành thử con người tự cảm thấy cô đơn, một mình gánh vác định mệnh của mình, không ai sống thay và chết thay ta được. Chính khi đã ý thức như thế rồi, chúng ta mới thực sự bước sang giai đoạn sống như một nhân vị tự do và tự đảm lấy định mệnh của mình. Trong khuôn khổ tác phẩm nhỏ bé này, chúng tôi chỉ dừng lại nơi vài phạm trù hiện sinh chính yếu thôi.

Buồn nôn

Danh từ buồn nôn tương đối là em út trong hàng các danh từ hiện sinh dùng để chỉ vẻ vô lý và vô ý nghĩa của một cuộc đời vô lý tưởng và vô ý thức. Nó là em út, nhưng nó chóng chiếm địa vị ưu tiên: Nó được thông dụng hơn, đồng thời có hiệu lực kích khởi hơn.

Buồn nôn là gì? Là trạng thái sinh hoạt lầm lì của thường nhật. Nói rõ hơn: Buồn nôn là cảnh sống của những người chưa vươn lên tới mức đích thực, còn cam sống như cây cỏ và động vật. Khi tôi sực tỉnh giấc phóng thể, khi tôi ý thức về địa vị và thiên chức làm người của tôi, tôi tự thấy nôn nao vì cuộc đời súc vật của tôi trước đây: Tôi đã chỉ lo sống, lo ăn, lo mặc, lo cho mình đủ những tiện nghi. Tóm lại, một số con người ta còn sống như những sinh vật. Và sống như sinh vật là một buồn nôn cho triết gia hiện sinh đã ý thức sâu xa về nhân vị con người.

Trong các triết gia hiện sinh, không ai tài tả về cái vẻ chán ngán của cuộc đời vô vị đó bằng Sartre. Chính danh từ buồn nôn do ông đưa ra và khai thác rất tài tình:

“Thôi, tôi cứ làm như nàng An-ny là xong: Tôi cứ sống thừa ra. Ăn, ngủ. Ăn, ngủ. Sống từ từ, êm êm, như những cây kia và như vũng nước này, hoặc như cái ghế bọc vải đỏ của toa xe lửa nọ”.

Ăn, ngủ. Ăn, ngủ. Sartre nhắc lại hai lần, nghe như nhịp đều đều của cuộc sống máy móc của tất cả những ai chỉ sống để mà sống.

Buồn nôn - jean paul sartre
Buồn nôn – jean paul sartre

Jean Paul Sartre gọi sống như thế là “sống thừa ra” (se survivre). Thừa ra, vì tôi không biết sống để mà làm chi cả. Sartre thường gọi sống như vậy là hiện hữu như một sự vật. Đó là hiện hữu, chưa phải là hiện sinh, nhất là chưa phải hiện sinh trung thực (existence authentique).

Sống thừa. Nôn. Tôi nôn trước Cuộc đời của tôi, vì cuộc đời nó quá giống sự sinh tồn của cây cỏ và thú vật: Hòn đá chỉ là hòn đá và mãi mãi là hòn đá. Cây cỏ và súc vật cũng gần như thế. Và con người chưa ý thức về nhân vị và định mệnh của mình cũng không hơn gì chúng.

Đó là những cá vị người, những con số người ta đếm như khi làm sổ thống kê, cả trăm ngàn người cùng giống nhau, không một ai vươn tới mức có nhân vị và nhân cách đặc sắc. Heidegger gọi tình trạng đó là “người ta”. Đó không phải là những con người có nhân cách, nhưng toàn là những “người ta” vô danh và vô vị.

Buồn nôn. Không phải những người sống thừa ra như cây cỏ kia biết buồn nôn. Không. Họ là sự nôn mửa cho triết gia hiện sinh, chính triết gia và những ai đã vươn tới mức hiện sinh đích thực mới cảm thấy buồn nôn. Vậy buồn nôn chỉ có nghĩa là nôn về sinh hoạt vô ý thức và vô vị của những con người cam sống như những con vật, không có nôn về thiên nhiên, mặc dầu đôi khi Sartre đi quá trớn và đã buồn nôn trước rễ cây xoan tây và trước mảnh sành ông nhặt lên để liệng xuống sông. Những buồn nôn đó chỉ có công tác chuẩn bị trận buồn nôn thực sự, nôn vì làm người mà lại sống thừa ra như cây cỏ.

Cũng nên biết Camus không nói buồn nôn, nhưng nói “phi lý” (absurde). Và ý thức về phi lý cũng phát sinh do cùng một nguồn đó: Triết gia ý thức về cái vẻ trơ trơ, vô ý thức và vô vị của cuộc đời:

 “Thức dậy, ngồi xe điện, bốn giờ ngồi bàn giấy hoặc ở xưởng, cơm trưa, rồi lại ngồi xe điện, bốn giờ ngồi bàn giấy, cơm tối, đi ngủ. Thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, cứ thế mãi, cứ thế mãi”. (Camus).

Ý thức sâu xa về tính chất phi lý và vẻ buồn nôn của cuộc đời vô nhân vị: Đó là bước đầu trên con đường hối cải của triết gia hiện sinh. Buồn nôn làm cho chúng ta vùng dậy, bỏ trạng thái sự vật để vươn lên tới thiên chức làm những nhân vị tự do và tự trách nhiệm.

>> Tác phẩm Buồn nôn của Jean Paul Sartre

Phóng thể

Phóng thể dịch từ chữ aliénation. Nguyên chữ này có nghĩa là hóa thành cái khác, thành người khác. Cho nên phóng thể là tình trạng của những con người chưa tự ý thức mình là những nhân vị độc đáo. Người phóng thể là người sinh hoạt như mọi người, và hành động chỉ vì người ta bảo mình làm hoặc nghĩ mình phải làm như thế. Triết học hiện sinh chống lại triết học thiên nhiên (philosophie de la nature), cho nên không lạ gì nếu nó chống lại mọi hình thức phóng thể. Phóng thể làm mất bản ngã của ta. Phóng thể làm ta nằm lỳ ở tình trạng sự vật: Sống như cây cỏ và động vật.

Hai hình thức phóng thể

Có nhiều hình thức phóng thể. Tựu trung có thể quy về hai hình thức đại loại này: Phóng thể duy tâm và phóng thể duy vật.

Phóng thể duy tâm phát sinh do sự “người ta quá suy tôn một thứ đạo đức giả tạo, đạo đức mơ mộng và ảo tưởng đầy ích kỷ và lười lĩnh. Thứ đạo đức này dứt con người ra ngoài cuộc sống xã hội để rồi cuộn tròn nó trong một tình cảm thanh nhã trưởng giả”.

Phải gọi phóng thể này là duy tâm vì nó chỉ tưởng tượng và mơ ước, nhưng không bao giờ dám tra tay vào hành động: “Họ muốn hành động, nhưng lại sợ lấm tay. Mâu thuẫn chưa! Thực là một thứ giả hình ích kỷ (pharisalsme égocentrique)”.

Sao những người duy tâm này bị gọi là phóng thể? Thưa vì họ không tự ý thức về vai trò lịch sử của họ; vì họ không thực sự nhận thức những điều kiện sinh hoạt của họ để lấy đó làm đà tiến cho bản thân họ; vì họ đã hoàn toàn thụ động thả mình tin theo những mẫu người “lý tưởng” mà sách vở của một số triết gia duy tâm đã phác họa cho họ. Thay vì tìm hiểu rồi khai thác những giá trị thực tế của môi trường xã hội ngày nay, họ đã trốn thực tại để sống nương mình trong những mơ ước viễn vông của những thời vàng son không bao giờ có. Ngược lại, phóng thể duy vật đồng hóa con người với một cơ năng để hoạt động. Đây ta không trách con người không hoạt động nữa, những trách nó đã hành động một cách vô ý thức, như một cái máy.

Đây con người không còn là một tinh thần bảng lảng như ma trơi nữa, những con người đã cảm thấy sức sống mãnh liệt của tập đoàn. Không những tại thể, con người còn tại xã hội nữa. Tuy nhiên một hình thức phóng thể khác đón chờ con người ở nẻo đường này: Con người không còn là một nhân vị sống với và trong tập đoàn nữa, nhưng đã trở thành phản ảnh trung thành của tập đoàn. Con người đã trở thành đơn vị của nhóm này, hội viên của phong trào kia.

Đó là ý nghĩa câu nói của Mounier:

Sống tập đoàn là một bước tiến của tinh thần, nhưng bước tiến đó chấm hết khi con người không còn giữ được óc sáng kiến và tự chủ, và khi chí khí mạnh mẽ nhường bước cho sự câu nệ của tập thể”.

Ở những nước dân chủ như Pháp, Anh (tôi chỉ nói những nước tôi quen thuộc hơn), mỗi sáng khi đi học, ngồi xe điện hoặc đợi xe buýt, chỉ cần xem mấy người bên cạnh tôi đọc báo gì đủ biết họ là nhóm nào: Ông ăn mặc lịch sự kia đọc Người thợ cạo (Figaro) vì ông là giới tư bản và ở giai cấp trưởng giả; anh mặc áo nhuốm dầu cặn đang đọc Nhân loại (Humanité) chắc anh đứng trong hàng ngũ cộng sản; mấy người khác, người thì đọc Giải phóng (Libération) (khuynh tả), người thì đọc Chiến đấu (Combat) (cấp tiến); mấy anh sinh viên và nhóm trí thức độc lập thì đọc Thế giới (Le monde). Tóm lại, đa số người ta sống đời sống tư tưởng của nhóm mình: Tờ báo của nhóm có nhiệm vụ suy nghĩ và quyết định giúp họ. Thành thử họ chỉ là những cái xác, còn hồn là nhóm, là đảng, là giới, v.v…

Đó là bộ mặt của phóng thể. Hai bộ mặt tổng quát. Trong thực tế, phóng thể mặc nhiều hình thức khác nhau, nhưng chung quy đều có một hậu quả khốc hại cho con người: Phóng thể làm cho con người sống yên hàn trong tình trạng sự vật sự vật của gia đình, sự vật của nhóm, của đảng, của toàn thể, của tôn giáo an nhàn. Phóng thể là tội nguyên tố, là căn nguyên cuộc sống tầm thường và buồn nôn của đa số con người ta.

Ưu tư

Ưu tư do thức tỉnh và suy nghĩ. Con người phóng thể không ưu tư, vì họ sống như một sự vật của gia đình và xã hội: Họ không ưu tư vì họ cứ việc sống thừa ra, sống như mọi người. Trái lại con người đã tỉnh ngộ không thể không ưu tư. Ưu tư là bắt đầu vươn lên.

Ưu tư không giống sợ hãi. Người ta chỉ sợ một cái chi rõ rệt (sợ rắn, sợ ma, sợ trộm). Còn ưu tư chỉ là xao xuyến, băn khoăn về tương lai chưa rõ rệt. Con người hiện sinh ưu tư vì biết rằng tương lai đầy huyền nhiệm, còn bao nhiêu yếu tố chưa hiện ra rõ rệt, và mình sẽ quyết định lấy cho mình. Không ai quyết định thay cho mình được. Để người khác hoặc đoàn thể quyết định thay, tức là thoái vị làm người tự chủ và tự do.

Bao nhiêu giá trị tinh thần đều lệ thuộc vào một quyết định của tôi. Tôi biết thế, cho nên tôi ưu tư.

Con người hiện sinh ý thức một cách bi đát rằng: Mỗi nhân vị là một thế giới huyền nhiệm, đầy những khả năng, có thể thành thánh và cũng có thể thành quỷ, có thể thắng vượt những dục vọng đê tiện và cũng có thể sống nô lệ những dục vọng đó: Tất cả ở tại sự hiểu biết và quyết định. Mà không ai hiểu tôi một cách đích thực. Không ai tha thiết với tôi bằng tôi. Nếu tôi không tha thiết với mình thì ai tha thiết tìm hiểu tôi để khai thác những khả năng vô tận mà Thượng đế đặt nơi tôi?

Bà mẹ xa con, luôn luôn áy náy, lo ngại cho người con yêu. Nhưng dầu sao, bà mẹ chỉ đứng ngoài nhìn vào bản ngã của người con và chỉ có thể lo những giá trị vật chất của người con thôi. Trái lại khi tôi ưu tư về tôi, tôi nhìn thẳng vào nội tâm của tôi, nhìn thẳng vào định mệnh cao cả và ghê sợ của tôi nhất là vì tôi biết rằng trong việc này không ai có thể giúp tôi: Tôi chết mình tôi thế nào, thì tôi cũng thực sự sống mình tôi như thế.

Một mình đây không có nghĩa là ích kỷ hoặc lẻ loi theo nghĩa thương, một mình đây có nghĩa triết học cho nên dầu cha mẹ bạn hữu xúm quanh tôi, an ủi và thông cảm với tôi, tôi vẫn cảm thấy rằng Đau khổ nằm sâu ở trong tôi và sự Chết sẽ hoàn thành sự ngăn cách giữa tôi và tha nhân.

Sự ưu tư
Sự ưu tư

Tóm lại ưu tư là vẻ đặc sắc của một cuộc hiện sinh đã tự ý thức, muốn dứt mình ra khỏi cảnh sống thừa, sống an nhàn của sự vật và của những con người phóng thể. Cho nên ưu tư là sức chuyển động, là những cái cựa mình để vươn lên. Cho nên có thể coi yếu tính của ưu tư là: Xao xuyến, cựa mình để lượn lên và không bao giờ cam chịu nằm lỳ ở trạng thái an cư của một sự vật.

Tự quyết

Nên biết ngay chữ tự quyết của hiện sinh chỉ nhằm chính hiện sinh của nhân vị con người, không nhằm sự vật. Cho nên tự quyết là tự chọn mình: Chọn làm người tự do mà cực khổ hơn là làm người nô lệ để sướng cái thân. Vì thế ý niệm tự quyết thường đi liền với ý niệm cái thân. Mỗi quyết định của tôi đều ghi một bước tiến trên đời tôi: Tự quyết là tự chứng minh rằng tôi là một chủ thể tự do và tự đảm nhận. Cũng vì thế mỗi tự quyết là một tuyển trạch khả dĩ thăng hoa con người tinh thần của tôi.

Mỗi khi tôi dám là tôi, mỗi khi tôi tự quyết về tôi trong bất cứ hành động nào, tôi đều đã hoàn thành một bước tiến đáng kể cho nhân vị của tôi. Tôi có thể tự quyết sai. Tự quyết của tôi có thể sinh hại cho tôi về tiền của hoặc sinh mạng: Người hiện sinh không kể chi những thiệt hại đó, không kể chi những sai lầm mình có thể mắc phải. (Ai lại không có khi sai lầm? Nếu sợ sai lầm đến nỗi không dám quyết định, thì tình trạng này còn khốc hại cho sinh hoạt tinh thần gấp ngàn lần những sai lầm kia). Miễn là đã quyết định trong sự bình tĩnh và sau khi đã suy nghĩ đủ, người hiện sinh tin tưởng ở giá trị hành động tự quyết của mình.

Chính trong hành động tự quyết, triết học hiện sinh chứng tỏ hiện sinh là giá trị sống, không phải là giá trị tư tưởng: Tư tưởng có tính chất tất nhiên, cho nên những kết luận của toán học và luận lý học đã nằm sẵn trong những câu tiền đề và nhất thiết được suy diễn ra một cách chắc chắn và rõ ràng; trái lại hiện sinh của con người không có tính chất tất nhiên, nhưng bất tất (contingence).

Kierkegaard
Soren Kierkegaard

Kierkegaard hay nói giễu:

“Nhóm Hégel không thể dùng suy luận để kết luận rằng phải có tôi. Tôi không phải là một quá trình suy tưởng của hệ thống Hégel”.

Suy luận có tính chất phổ quát và tất nhiên vì nó diễn tiến trong lãnh vực trừu tượng: Trái lại hiện sinh thì đặc sệt những điều kiện cụ thể muôn màu, cho nên “không bao giờ ta có thể dùng suy tưởng để tát cạn được hiện sinh” (Marcel).

Thành thử suy tưởng và hiện sinh là hai thế giới khác hẳn nhau. Nói thế để chúng ta dễ thấy tại sao triết học hiện sinh đề cao tự quyết: Là vì dầu tôi giỏi luận lý đến đâu mặc lòng tôi cũng không thể đưa ra một giải quyết trăm phần trăm thỏa mãn cho thực tế: Thực tế vẫn còn những dấu hỏi bắn vào mặt tôi, cho nên kết cục tôi vẫn phải liều một phần. Liều là một danh từ hiện sinh: Chính trong cái liều này, tôi tỏ ra mình là chủ thể. Liều, tôi đã nhận lấy trách nhiệm làm người. Liều, tôi đã tự đảm nhận.

Tất nhiên mỗi tự quyết đều là tự tuyển, cho nên tính chất liều đây chỉ là chỗ vượt quá luận lý mà thôi, không thể là thiếu suy nghĩ. Con người hiện sinh ưu tư về định mệnh của mình và ưu tư tìm cách phát triển nhân cách của mình tới mức toàn hảo, cho nên tự quyết luôn luôn mang nặng những suy nghĩ và ưu tư.

Vươn lên

Đề tài này phát sinh dưới ngòi bút Kierkegaard và thực sự đã thể hiện trong đời sống của ông: Đó là những giai đoạn của cuộc đời. Con người phải vươn lên khỏi giai đoạn hiếu mỹ để đạt tới giai đoạn đạo đức; rồi lại phải vươn lên khỏi trình độ đạo đức để tiến lên giai đoạn tôn giáo.

Hơn nữa Kierkegaard đã nhiều lần lên tiếng phản đối nhưng hình thức tôn giáo trưởng giả vì chúng ru ngủ con người, “bảo hiểm” cho con người, thành thử con người tôn giáo như vậy đã bỏ mất hiện sinh trung thực: Thay vì thăng tiến con người, những tôn giáo trưởng giả đã bóc mất nhân vị con người, đẩy họ xuống hạng sự vật thụ động và máy móc.

Đọc Kierkegaard, chúng ta tưởng như luôn luôn nghe ông cảnh tỉnh con người rằng:

“Coi chừng sa lầy! Tất cả những gì ru ngủ đều là những sa lầy. Những triết thuyết và tôn giáo hô to rằng sẽ bảo đảm cho chúng ta: Đó là những sức phá hoại nhân vị của ta. Chúng chỉ có chủ đích là giúp ta thôi làm người để chúng làm người giúp ta!”.

>> Đọc thêm :  Soren Kierkegaard: từ đức tin đến triết học của tuyệt vọng

Nhưng về mục này, không triết gia nào lợi khẩu và sâu xa hơn Sartre và Marcel. Sartre định nghĩa yếu tính của sự vật là lầm lỳ: Mỗi sự vật chỉ là nó mà thôi. “L’être en soi est ce qu’il est. Il est massif… Il ne connait pas l’altérité… Il est lui-même indéfiniment et il s’épuise à l’être”. Xin dịch là: Hữu thể tự thân chỉ là mình nó. Nó đặc ứ. Nó không có tha tính (tính chất biến ra khác). Muôn đời nó sẽ chỉ là nó và cứ thế cho đến khi nó kiệt đi.

Sartre đối chiếu hữu thể tự thân (en soi) với hữu thể tự quy (pour soi) và ông quan niệm vật tự thân là chắc nịch, lầm lỳ, nhầy nhụa, buồn nôn. Nó đáng ta nôn bởi vì nó cứ lì lì như thế mãi cho tới khi nó kiệt đi và bị tiêu diệt. Trái lại hữu thể tự quy có khả năng hư vô hóa cái chất đặc sịt kia của vật tự thân cho nên đặc tính của nó là biến hóa và tiến lên.

Những ai chưa chi đã muốn an hưởng sự nghiệp của mình, đều là những kẻ sa lầy: Họ coi dĩ vãng của họ là sự nghiệp của họ, tức tài sản của họ. Sự nghiệp đó bị khách thể hóa: Đó là bức ảnh chụp ngồi yên và cứng đờ; đó là ngân khoản họ rút dần dần ra khỏi ngân hàng để nhàn hưởng. Họ sống, mà thực sự họ đã chết. Chết, vì họ không còn vươn lên nữa. Họ cũng đầy ứ như một vật tự thân.

Gabriel Marcel
Gabriel Marcel

Marcel, với hai phạm trù chiếm hữu và hiện hữu (avoir, être) đã đi sâu vào sự nghiên cứu sức vươn lên của hiện sinh. Tất cả những gì tôi có (avoir) đều có thể gọi thành tên, và cứng đọng như những sự vật tôi có một mẫu ruộng, tôi có một mảnh bằng. Dừng lại ở cái mình có, là tự đẩy mình xuống vũng sa lầy của tự phụ và tự đại: Và cái có càng lớn và mình càng bám vào nó chặt hơn, thì sự sa lầy càng khó tìm phương cứu chữa. Vì thế Marcel thường coi dĩ vãng là một ứ đọng, một cạm bẫy đưa ta tới sa lầy. Ngay trong khi ta hành động, nếu ta không nhắm cao lên mãi, thì hành động sẽ là dịp để ta tự ru ngủ mình và nuôi rất nhiều ảo mộng:

“Hành động vượt quá trên cái có, nhưng rồi cũng dễ bị coi như một cái có: Đó là hình thức trụy lạc của hành động”.

Những con ông cháu cha (nhất là các hoàng tử sinh ra trên sập vàng) hầu hết chỉ biết sống dựa vào tài sản của cha mẹ: Họ chỉ là những cái máy tiêu tiền, cho nên họ là những hạng đốn mạt và là những con sâu đục khoét xã hội. Đó là những con người sống toàn bằng phạm trù có. Họ không bao giờ biết đến phạm trù hiện hữu (être) mà hiện hữu (hiện sinh) là đặc tính của những con người ý thức về nhân vị của mình và luôn luôn vươn lên khỏi tình trạng tầm thường của những cái sở đắc.

Thánh Augustin, một trong những cụ tổ của triết hiện sinh đã viết: “Không tiến là lùi rồi” (Non progredi regredi est). Vươn lên là lẽ sống của người hiện sinh trung thực.Không vươn lên, tức là bị cứng đọng, sa lầy. Mà vươn lên không có nghĩa là thắng người này người nọ. Vươn lên của hiện sinh chỉ nhằm thắng chính mình: Mình phải vươn lên trên cái mình của hôm qua và của lúc nãy. Đúng như câu tâm niệm của thánh hiền: “Nhật nhật tân, hựu nhật tân”.

Xem thế, ta đủ thấy sinh hoạt của hiện sinh trung thực là một sinh hoạt căng thẳng, luôn luôn buộc mình tiến lên, vươn lên.

Độc đáo

Có lẽ đây là điểm quan trọng nhất và đặc sắc nhất của triết hiện sinh. Triết học về thiên nhiên không bao giờ nhìn nhận con người là một cái gì độc đáo; trái lại, như chúng ta đã thấy trên kia triết học cổ truyền luôn luôn quan niệm mỗi người chúng ta là một đơn vị của tổng số nhân loại, mà nói đơn vị tức là nói đồng đều và giống nhau.

Triết học hiện sinh nhằm lay tỉnh con người, nhắc cho mỗi người biết rằng mình là một độc đáo và mình phải hoàn thành cái định mệnh độc đáo của mình. Triết cổ truyền không biết tới độc đáo vì quan niệm mọi sự qua những phạm trù của lý trí, thành thử đứng trước những vấn đề như nhau và trong những hoàn cảnh giống nhau, anh và tôi chúng ta nhất thiết sẽ phản ứng như nhau. Hợp lý lắm. Nhưng chính trong cái hợp lý này, triết cổ truyền đã vô tình phủ nhận bản chất của con người là tự do: Đã tự do, thì trong hoàn cảnh giống nhau, chúng ta mỗi người có thể định đoạt khác nhau, phản ứng khác nhau.

Rồi cả trong những cái thoạt coi như giống nhau, chúng ta cũng thực sự khác nhau lắm. Cũng là yêu con đẻ của mình, nhưng anh có một cách yêu khác và tôi có cách yêu khác; cũng là ghét quân bất lương, nhưng anh và tôi mỗi người có một cách ghét khác nhau: Cả ngay đến tiếng cười, cả ngay cách cầm đũa, mỗi người chúng ta đều có cách điệu riêng biệt của mình: Và đó là những cách tại thế của mỗi người chúng ta. Sinh hoạt của mỗi chúng ta được thể hiện qua những cách điệu đặc biệt đó. Đấy là nói qua những sinh hoạt tầm thường, phương chi khi nghĩ đến những hình thức sinh hoạt siêu việt của nhân vị tự do, như suy tính, lựa chọn, quyết định v.v… thì tính chất độc đáo lại càng rõ ràng hơn nữa.

Tính chất độc đáo còn hiện ra trong lịch sử tính của mỗi người chúng ta. Lịch sử là cái gì chỉ xảy ra một lần; cũng như không có hai lịch sử Việt Nam, thì cũng không thể có hai lịch sử của tôi. Và cũng như nước Việt Nam ngày nay là một xuất diễn bắt nguồn từ những giai đoạn khởi thủy và qua những biến thiên trước đây, thì nhân cách của tôi cũng là một cái gì duy nhất bắt nguồn từ ngày tôi sinh ra, và còn cứ diễn tiến qua thời gian tính để càng ngày càng thể hiện nên nhân cách đặc biệt và độc đáo của tôi, khác hẳn nhân cách của cha tôi và của anh em ruột thịt tôi.

Tuy nhiên khi nói nhân cách, chúng ta chưa đứng vào quan điểm hiện sinh. Nói nhân cách là nói một cái chi đã thể hiện, có thể khách thể hóa. Triết hiện sinh không ưa quan điểm đó, cho nên lịch sử tính của con người theo triết hiện sinh không có vẻ cứng đọng ở hoàn cảnh như quan niệm cổ truyền về lịch sử: Triết cổ truyền coi con người sống trong lịch sử và như thế ngầm coi hoàn cảnh lịch sử như có tác dụng chắc chắn trên con người (Thuyết mát-xít còn đi xa hơn trong con đường này khi chủ trương con người là sản phẩm của xã hội); trái lại triết hiện sinh là triết nhân vị nên không quan niệm con người hiện sinh đích thực là một sinh vật sống trong lịch sử, nhưng coi đó là những nhân vị luôn luôn dùng dự phóng để cấu tạo nên lịch sử của mình.

Như thế, lịch sử tính của con người nhân vị là sự thể hiện đầy ưu tư về định mệnh của mình. Nói cách khác, con người hiện sinh đích thực là con người làm nên lịch sử của mình, vì nó tự đảm nhận mọi hành vi của mình và đảm nhiệm luôn cả cuộc sống của mình xét như một dự phóng căn bản.

Một khi đã ý thức sâu xa về tính chất độc đáo hiện sinh của mình, con người tự cảm thấy cô đơn: Chính tôi sẽ chết cái chết của tôi, không ai chết giúp tôi được; vậy thì cũng chính tôi phải sống cuộc sống độc đáo của tôi, đừng để người ta sống mất cuộc sống đó, nghĩa là tôi đừng sống theo đuôi “người ta”. Khi nào tôi đảm nhiệm lấy cô đơn, đó chính là lúc tôi dám làm người có nhân vị độc đáo: Khi đó tôi sẽ dám phát huy tất cả những khả năng riêng biệt của tôi theo những đường lối chỉ tôi có, nên chỉ mình tôi biết phải khai thác thế nào để có thể đạt tới mức toàn thiện.

Tổng kết

Nhìn qua ba loại phạm trù của ba giai đoạn triết học (cổ truyền, cổ điển và hiện đại), chúng ta thấy nổi bật lên ý nghĩa bi đát mà triết hiện sinh đã mặc cho triết học: Triết cổ truyền và cổ điển, vì trừu tượng, cho nên rất thanh bình, không tỏ ra một ưu tư nào về ý nghĩa cuộc nhân sinh và về định mệnh con người hết; trái lại triết hiện sinh đã hoàn toàn bỏ rơi vũ trụ để chỉ suy nghĩ về con người thôi: Trong quan điểm đó, Berdieaff đã thay mặt nhóm hiện sinh để định nghĩa triết học hiện sinh là triết học nhân vị: “Triết học hiện sinh là triết học nhân vị: Chủ thể tri thức là chính nhân vị con người”.

Chủ đích của triết hiện sinh là thức tỉnh con người, lôi con người ra khỏi tình trạng phóng thể và giúp con người vươn lên mức sống của những nhân vị tự do và tự nhiệm. Cho nên chữ hiện sinh luôn luôn có nghĩa là: Hiện sinh trung thực (existence authentique). Mà hiện sinh trung thực là bỏ tình trạng sống như cây cỏ và sinh vật, để sống cuộc đời trách nhiệm của những nhân vị tự do. Hiểu như thế, chúng ta thấy triết hiện sinh không chút chi giống với những hình thái hiện sinh được phơi bày hằng ngày trên một số báo và tạp chí.

Những phong trào hiện sinh văn nghệ đó không những không có tính chất triết hiện sinh, nhưng phải nói thực chúng phá hoại và chống lại tư tưởng triết học hiện sinh. Những phong trào văn nghệ đó chỉ phản ánh tình trạng sống động bừa bãi và vô ý thức của những con người vô nhân vị. Cho nên, để dễ nhớ sự khác nhau một trời một vực giữa cảnh sống bừa bãi này với cảnh sống đầy ưu tư và thận trọng của triết hiện sinh, tôi nghĩ không gì bằng kết thúc mấy trang này với câu sắt đá sau đây của Marcel: “Il y a une chose qui s’appelle vivre, et il y a une chose qui s’appelle exister: j’ai chosi d’exister”.

“Sinh tồn là một chuyện, và hiện sinh là một chuyện khác: Tôi thì tôi chọn hiện sinh”.

—————
Trần Thái Đỉnh

Avatar of Chim Én
 | Website

Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội

Leave a Reply