banner web

Triết học hiện sinh là gì – Trần Thái Đỉnh

Triết học hiện sinh

Triết học hiện sinh là gì, đây là bài viết Chương một của giáo sư Trần Thái Đỉnh trong cuốn Triết Học Hiện Sinh – Công ty sách thời đại và nhà xuất bản văn học.

Triết học hiện sinh là đề tài tranh cãi

Tôi sợ đó là câu truyện quá nhàm. Nhưng cũng sợ mình sẽ nói trong gió lốc. Sợ nhàm, vì vấn đề triết học hiện sinh đã được phơi bày hàng ngày trên mặt các tạp chí tự xưng là văn nghệ hiện sinh tự mấy năm nay. Hơn nữa, vấn đề triết học hiện sinh còn là đề tài tranh biện sôi nổi giữa vài tạp chí vào khoảng mấy tháng trước đây. Tuy nhiên cái tôi sợ hơn, là sợ mình nói trong gió lốc: Sau bao nhiêu cãi lẫy và la ó (không bên nào nghe bên nào, và thường khi có người nói không biết mình nói chi), không biết chúng ta có đủ bình tĩnh và kiên nhẫn để tìm hiểu triết học hiện sinh đến nơi đến chốn không?

Triết học hiện sinh có thể nguy hiểm và xấu nữa. Những nguy hiểm ở chỗ nào, và xấu ở chỗ nào? Bao lâu chúng ta chưa nói một cách đứng đắn và đích xác, thanh thiếu niên vẫn chưa nghe lời chúng ta, và mối nguy hiểm vẫn cứ còn mãi. Cái khó là không phải chỉ có một nền triết học hiện sinh, nhưng có đến hai ba khuynh hướng hiện sinh khác hẳn nhau.

Đàng khác thuyết hiện sinh có chứa đựng rất nhiều mầm mống tốt trộn lẫn với nhiều mầm mống xấu: Chính những vẻ tốt đẹp kia đã quyến rũ thanh thiếu niên, nhưng vì họ chưa đủ tinh tường để phân biệt, cho nên họ nuốt luôn cả những chất độc pha trộn nơi đó.

Vậy cần phải phân biệt rõ ràng. Và mỗi khi chúng ta khen hay chê triết học hiện sinh, thì nên nói rõ đó là triết Sartre hay là triết Jaspers, triết Heidegger hay là triết Gabriel Marcel, bởi vì, như chúng tôi sẽ trình bày tỉ mỉ sau đây không những có hai ngành hiện sinh chính, ngành tả và ngành hữu, nhưng trong mỗi ngành cũng để lộ ra những khuynh hương khác nhau của mỗi triết gia.

Triết học hiện sinh
Triết học hiện sinh

Chúng tôi sẽ lần lượt bàn về:

  1. Lập trường của triết hiện sinh
  2. Những đề tài chính của triết hiện sinh
  3. Hai ngành chính của phong rào triết hiện sinh
  4. Kierkegaard, ông tổ hiện sinh chính thực
  5. Nietzsche, ông tổ hiện sinh vô thần.
  6. Husserl, ông tổ văn chương triết lý hiện tượng học
  7. Jaspers, hiện sinh hướng về siêu việt
  8. Marcel, hiện sinh và huyền nhiệm
  9. Sartre, hiện sinh hư vô.
  10. Heidegger, hiện sinh và hiện hữu.

>> Khái quát triết học hiện sinh và các trường phái

Lập truờng của triết học hiện sinh

Tại sao triết học hiện sinh quyến rũ thanh thiếu niên? Tại sao triết học hiện sinh đã chinh phục được những vị giáo sư lão thành như J. Wahl? Muốn trả lời những câu hỏi đó, cần nhớ đến những buổi học về triết học cổ truyền, các sinh viên ngồi nặn óc để hiểu và học thuộc lòng những ý niệm vô cùng trừu tượng về bản tính, yếu tính, mô thể, thể cách v.v…

Triết học cổ truyền

Triết học cổ truyền, từ Platon, Aristote cho đến Descartes, Kant và Hegel, chỉ là một thứ triết học bị phóng thể: Thay vì giúp con người suy nghĩ về thân phận và định mệnh của mình, triết học đã khuyến khích con người quên mình để mãi tìm hiểu những lẽ huyền vi của tạo hóa.

Triết học về thiên nhiên

Chúng ta biết triết học của  Aristote và của Kinh viện thời trung cổ có tên là: Triết học về thiên nhiên (philosophie de la nature). Câu định nghĩa của Kinh viện là: Triết học là khoa học về vạn vật, lấy những nguyên nhân tối cao để giải nghĩa chúng (La philosophie est la science des choses par leurs causes suprêmes). Như thế, con người không có chỗ đứng riêng; con người cũng bị coi là một trong hàng vạn vật.

Trong cả bộ triết học Aristote không dành phần nào cho con người hiện sinh hết, không bàn đến tự do, không bàn đến nhân vị, không bàn đến định mệnh và những gì đợi chúng ta sau khi chết. Vũ trụ to quá, át tất cả. Con người bị bỏ quên.

Aristote
Aristoteles

Thực ra, triết học Aristote và nói chung triết học cổ truyền, đã phản ảnh thái độ sơ khai của ý thức con người ý thức bị phóng thể. Đứa bé con cởi truồng đi chơi ngoài đường: Nó không biết xấu hổ vì nó chỉ nhìn người ta, và nó nhìn nó bằng con mắt ngây thơ của nó; nó chưa biết nhìn nó bằng con mắt của người ta đang nhìn nó. Tóm lại nó chỉ nhìn ra, không nhìn vào và không nhìn về chính mình nó.

Thời kỳ niên thiếu là thời kỳ con người sống phóng thể, hoàn toàn hòa mình vào vũ trụ: Con người phóng thể sống trong vũ trụ và chỉ ý thức về các sự vật trong vũ trụ đó; khi nào con người ý thức được rằng mình đang sống trong vũ trụ, mình đã sử dụng sự nọ vật kia, mình đã có thái độ tốt này thái độ xấu kia v.v… thì khi đó con người mới bước sang giai đoạn phản tỉnh.

Thời kỳ phóng thể có thể kéo dài lâu hay chóng tùy nơi mỗi người và mỗi dân tộc: Có những người sống đến già vẫn chưa hoàn toàn ý thức về ý nghĩa cuộc nhân sinh, họ chỉ sống hơn kém một động vật cao đẳng; và có những dân tộc, cho đến nay, vẫn chưa ý thức về tình cảnh bi đát của mình, đành chịu ách nô lệ thực dân, độc tài.

Triết học về thiên nhiên là điển hình triết học phóng thể; chủ đích của triết học đó là tìm ra căn nguyên của vũ trụ. Khi triết gia đầu tiên của Hy Lạp, ông Thalès, nhìn vũ trụ và ông muốn gọi tên của nguyên ủy vũ trụ, thì ông nói: “Nước! Nước là nguyên ủy vạn vật”.

Héraclite bảo nguyên ủy đó là Lửa. Rồi ông thì bảo là Khí, ông lại nói là Vô định. Parmenide chủ trương nguyên ủy đó là Hữu thể duy nhất bất biến. Đến Platon Hữu thể duy nhất và bất biến này biến thành những Linh động bất biến: Đó là Vũ trụ các Linh tượng của học thuyết Platon. Lập trường của Platon không giải nghĩa được hiện trong của vạn vật khả giác, cho nên Aristote mới nghĩ ra thuyết Mô chất (Hylémorphisme), coi vạn vật đều kết thành bởi hai nguyên nhân: Mô thể và Chất thể (Forme, Matière).

>> 7 Nguyên Lý Hermetic – Quy Luật Vận Hành Của Vũ Trụ Huyền Bí

Thay vì Linh động Con Chó (duy nhất) của Platon trên Linh giới, Aristote chủ trương rằng: Có vô số những con chó. Tại sao con Mực, con Ki-ki, con Vàng, con Lu, con Bẹc-dê v.v… đều là những con chó? Aristote thưa:

“Sở dĩ chúng đều là những con chó, vì trong chúng chỉ có một mô thể duy nhất là Chó; còn chúng chỉ khác về những cái tùy tòng của chất thể thôi”.

Như vậy, tất cả những con chó đều chung nhau một mô thể duy nhất là: Chó. Và nếu có nhiều chó, thì chỉ vì mô thể Chó đã được nhập thể nơi nhiều chất thể khác nhau đó thôi. Về con người, chủ trương của Aristote cũng vẫn giữ nguyên như vậy: Chúng ta chung nhau một mô thể duy nhất là Người, và chúng ta chỉ khác nhau vì chúng ta có những thân thể khác nhau. Trong viễn tượng này, Aristote viết:

“Chỉ phần anh linh nhất trong con người, tức trí năng tác động, có bất tử tính mà thôi”.

Xin hỏi:

“cái phần bất tử đó của con người là của chung hay của riêng một người? Con người sẽ bất tử, hay là chúng ta mỗi người đều bất tử?  ”.

Thánh Thomas, đồ đệ của Aristote, trả lời rằng: “Mỗi người chúng ta đều bất tử.”.

Nhưng các học giả ngày nay đồng thanh xác nhận rằng đó chỉ là chủ trương riêng của Thánh Thomas thôi, và ngài chủ trương như vậy vì triết của ngài đã chịu ảnh hưởng sâu xa của Thiên Chúa giáo.

Nhìn qua như thế, chúng ta hiểu ít nhiều về bộ mặt cứng đờ của triết học cổ truyền, triết học về thiên nhiên. Nói thực ra, triết học này chỉ là một quá trình của khoa vật lý, một thứ khoa vật lý học ở thời kỳ phôi thai, còn mang nặng những suy luận duy lý.

Siêu hình học của Aristote

Siêu hình học (tiếng Hy Lạp: μετὰ ικά; Latin: Metaphysica, lit: “vươn ra ngoài vật lý”) là một trong những tác phẩm chủ yếu của Aristotle và là tác phẩm lớn đầu tiên của nhánh triết học cùng tên. Vấn đề chính là “đang tồn tại”, hoặc các vấn đề tương tự như vậy.

Chỉ cần nhớ rằng bộ Siêu hình học của Aristote là bộ sách xếp sau bộ Vật lý học của ông, và tựu trung vẫn đề cập đến cùng một loại vấn đề: Giải nghĩa vạn vật bằng bốn nguyên nhân căn bản của chúng, tức nguyên nhân mô thể, nguyên nhân chất thể, nguyên nhân tác thành và nguyên nhân cứu cánh. Người ta không thấy một cách biệt nào giữa hai khu vực vật lý (physique) và khu vực siêu hình học (métaphysique) của triết học ông. Có học giả đã nói giễu:

“Vật lý học của Aristote là một thứ vật lý học siêu hình và siêu hình học của ông lại là siêu hình học vật lý”.

Một điều chắc chắn và rõ ràng là: Aristote đã quan niệm vũ trụ như một toàn bộ có trật tự, trong đó con người chỉ chiếm một địa vị tầm thường. Tầm thường, vì con người không toàn hảo bằng các hành tinh, và tất nhiên là thua các định tinh nhiều lắm.

Vũ trụ quan của Aristote cho thấy một con người bị chìm mất trong vũ trụ, bị đặt dưới những vật thể như tinh tú.

Thánh Thomas, nhờ ảnh hưởng đạo Thiên Chúa, đã bổ túc triết học Aristote bằng những quan niệm về nhân vị tự do và định mệnh cao cả của con người. Nhưng kết cục ngài vẫn không thay lập trường cho triết học vật lý của Aristote, cho nên người ta bó buộc phải công nhận rằng triết học của ngài vẫn là triết học về thiên nhiên.

Nhà triết học  Descartes

Descartes
Nhà toán học và trết học René Descarte

Descartes, với sự khám phá ra chủ thể tính con người và tự do mang nặng chất hiện sinh, đã hé nhìn thấy đường đi của triết học. Cho nên

“Đối với Descartes, không thể có triết học về vũ trụ, nhưng chỉ có khoa học về vũ trụ và triết học về tinh thần”.

Đúng thế, nghiên cứu vạn vật là lãnh vực của khoa vật lý, còn triết học không nên tranh giành đối tượng đó với khoa học; triết học có nhiệm vụ rõ rệt và riêng biệt, là tìm hiểu con người, và con người đây không phải là sự vật sinh tồn, nhưng là sinh hoạt tự do, tức tinh thần.

Đáng tiếc thay, Descartes đã vội đối tượng hóa con người; mà con người đối tượng là con người vật thể mất rồi.

Kant và nhất là Hegel còn đẩy đà này đi xa hơn, thành thử triết học vẫn lẩn quẩn trong thái độ ý niệm, coi con người là thế này thế nọ, trong khi con người có thể là quỷ hay là thánh, có thể sống làm thân trâu ngựa, sướng cái đời con vật, hay trái lại có thể chọn tù ngục miễn là được nói sự thực, và sống xứng đáng con người tự do. Đó là lập trường và chủ đích của triết học hiện sinh.

Trước khi nói đến triết học hiện sinh với chủ trương thăng tiến con người, chúng ta cũng nên biết qua hình thức văn chương của triết học cổ điển. Có thể mở bất cứ bộ triết học cổ điển nào, chúng ta cũng thấy một bộ máy những danh từ quá trừu tượng và quá chuyên môn. Người ta có cảm tưởng đứng trước một trang sách toán học trá hình: Các lý luận đều liên kết bằng những câu tam đoạn luận, thành thử cả trang sách chỉ là một mớ những câu tam đoạn luận, và cả cuốn sách chỉ là tổng số những câu định nghĩa và những câu tam đoạn luận. Kết cục, người sinh viên không học được điều chi ngoài cái hình thức lý luận trừu tượng đó. Tệ nhất là các vấn đề được nêu lên ở đó hoàn toàn là những vấn đề giả tạo, những vấn đề không do cuộc sinh hoạt thực tế xui nên, nhưng chỉ là những vấn đề lý thuyết xa xôi do các học giả ngồi trong thư phòng nghĩ ra như kiểu người ta nghĩ ra những câu đố chữ.

Về điểm này, L.M.Chênu, một nhà nghiên cứu về triết Kinh viện đã viết:

 “Không phải những điểm bị hồ nghi hoặc bị chối cãi, nhưng là những điểm mà hết mọi người đồng ý và tin tưởng như nhau, đã được các nhà thần học và triết học nêu lên thành vấn đề. Như vậy chỉ là những vấn đề hình thức mà thôi”.

Nội dung hình thức, lối văn diễn tả lại máy móc và trừu tượng, một triết học như thế chỉ là một món tiêu khiển thanh nhã của những người quý phái và an nhàn. Và thực ra, triết học cổ điển chỉ dành riêng cho những con nhà thượng lưu mà thôi, và họ dùng trí thức triết học làm đồ trang điểm cũng như phụ nữ dùng son phấn. Triết học như thế không phát sinh do sự suy nghĩ về nhân sinh, nên cũng không giúp gì con người trong việc giải quyết những vấn đề nhân bản.

Triết học hiện sinh là triết học về con người

Triết hiện sinh là triết học về ý nghĩa cuộc nhân sinh, và nói tắt là triết học về con người. Emmanuel Mounier người theo chủ nghĩa nhân vị đã nêu cao lập trường của hiện sinh như sau:

“Bất cứ khuynh hướng nào trong triết hiện sinh đều là triết học về con người, trước khi là triết học về vũ trụ. Theo Thiên Chúa giáo hay không, triết học hiện sinh đều mang nặng tính chất bi đát của kinh nghiệm con người về định mệnh của mình”.

Triết hiện sinh bỏ con đường cũ của triết học cổ truyền, không theo đuổi công việc tìm những nguyên nhân cao nhất của vạn vật nữa. Triết hiện sinh không mất thì giờ bàn những truyện xa xôi về những lẽ huyền vi của tạo hóa, nhưng chỉ chú trọng đến thân phận của con người, tìm hiểu ý nghĩa của cuộc sống và của cái chết. Không gì tha thiết với con người bằng chính con người. Và cũng không có gì dễ hiểu hơn. Bởi thế tiếng nói của hiện sinh đã được các giới, nhất là lớp người thanh niên đầy ưu tư về thân phận của mình, đón chào một cách nồng nhiệt và tiếng nói đó đã gây nên phong trào triết học như ta thấy.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại triết học đã gây một phong trào sâu rộng trong quần chúng. Điều này do hai căn cớ:

  1. Thứ nhất vì triết học hiện sinh không nói đến những nguyên nhân xa xôi, nhưng nói đến con người sinh hoạt trong xã hội loài người.
  2. Thứ hai là triết hiện sinh không dùng lối danh từ chuyên môn tâm tượng nhưng dùng lối văn bình dị của mọi người (truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch trường v.v…).

Hai yếu tố này đã làm nên công việc mà xưa kia không một tiếu thuyết nào làm được: Đưa triết lý vào đời sống và hướng dẫn đời sống bằng những suy nghĩ triết học.

Triết học về thiên nhiên là thứ triết học tìm hiểu vũ trụ, quá mải miết với những lẽ huyền vi, thành thử bỏ quên mất con người. Đó là triết học phóng thể.

Triết học hiện sinh sực tỉnh giấc mê đó, biết mình đang ở tình trạng phóng thể cho nên vội bỏ công việc tìm hiểu vu trụ cho các nhà khoa học, để từ nay chỉ suy nghĩ về ý nghĩa cuộc sống chết của con người mà thôi. Chính vì thế, triết học hiện sinh đã cảnh tỉnh con người, và do đó

 “dầu là khuynh hướng Thiên Chúa giáo hay là vô thần, triết hiện sinh cũng đã mang yếu tố tôn giáo lại cho cái thế giới lạnh lùng của triết cổ điển”.

Để công việc trình bày được rõ ràng, chúng tôi lần lượt bàn đến nội dung của triết hiện sinh, sau đó sẽ nói qua về hình thức trình diễn của nó.

Nội dung của triết học hiện sinh

Đây chúng tôi hiểu nội dung theo nghĩa rộng. Nội dung của triết hiện sinh là con người, con người có xương thịt đang sinh hoạt hàng ngày trong xã hội. Không phải con người với một chữ C lớn, nghĩa là không phải con người phổ quát của Aristote; những con người đây là tôi, là anh, là chúng ta hết thảy và từng người một.

Là con người sinh hoạt, tôi là một chủ thể, và tôi là một nhân vị tự do. Đó là hai đề tài chủ yếu của triết hiện sinh. Bao lâu nay con người chưa ý thức hai điều đó một cách thấm thía, thì chưa biết sống cho ra người.

Chủ thể tính.

Triết hiện sinh xây trên chủ thể tính, không coi con người là một sự vật của toàn bộ vũ trụ nữa, nhưng coi con người như một hữu thể đứng trên vũ trụ và có quyền gán cho vũ trụ một giá trị tùy quan điểm của mỗi người.

Xin phân biệt chủ thể tính (subjectivité) và thuyết duy chủ thể (subjectivisme). Thuyết duy chủ thể là mô hình thức của thuyết duy tâm, theo đó thì sự vật không có giá trị nào hết, ngoài giá trị mà chủ thể ban cho nó; có những thuyết duy chủ thể còn đi xa hơn nữa với chủ trương rằng ngoài chủ thể ra không có chi hết cả: Mọi sự đều chỉ là những tác phẩm của tư duy.

Trái lại chủ thể tính chỉ có nghĩa là: Con người không phải một sự vật như cây đa, con mèo, con chó; con người có khả năng hồi tưởng, suy nghĩ, dự tính. Chỉ con người có sự sống nội tâm, chỉ con người có ý thức tự quy (conscience de soi-même). Tóm lại, nói con người có chủ thể tính là nói rằng con người không phản ứng như một sự vật: Sự vật luôn luôn phản ứng theo cách nhất định, còn con người thì không, vì con người là nhân vị tự do.

Thí dụ tấm gương luôn luôn phải chiếu đúng hình ảnh của em gái tôi. Còn gương mặt con người thì trái hẳn: Hôm qua lúc anh T. đứng nói chuyện với em gái tôi ở cổng nhà cha mẹ tôi, thì chợt anh Ph. đi qua; cũng là em gái tôi, thế mà anh T., vị hôn phu của nó nhìn thấy nó khác và anh Ph., người bị nó từ chối, lại nhìn thấy nó khác. Cũng tiếng cười của em gái tôi, anh T. thì cảm thấy thơm như hoa và mát như trăng, còn anh Ph. lại cảm thấy đau nhói như dùi đâm và uất người lên như lửa đốt. Tất cả các sự vật khác cũng thế: Đối với ta, sự vật không bao giờ có khách thể tính (objectivité) thuần túy, nhưng luôn luôn đượm mầu tình cảm, và đó là giá trị mà ta khoác cho nó. Đúng như tục ngữ của ta: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”.

Lấy vài thí dụ cụ thể và tầm thường để ta thấy chủ thể tính của con người. Chủ thể tính đó không phải là một trừu tượng, nhưng là một thực tại của mọi lúc. Chủ thể tính là linh hồn tất cả mọi hình thức sinh hoạt của con người, tự cái nhìn cho đến những phản ứng phức tạp.

Chúng tôi xin giải nghĩa thêm về cái nhìn: Khác với thuyết duy chủ thể, khi nói con người là chủ thể, triết học hiện sinh chỉ có ý quyết rằng sự vật có thực tại tính của nó, nhưng sự vật không thể có khách thể tính tuyệt đối như chủ trương của phái duy nghiệm Locke, Hume.

Con người không thụ động mỗi khi tiếp xúc với sự vật; con người không lãnh nhận những ấn tượng do sự vật in trên giác quan của mình, như quan niệm sai lầm của duy nghiệm. Vì con người là chủ thể, cho nên mỗi tiếp xúc của ta với sự vật đều là những phản ứng, và trong phản ứng đó ta có phần chủ động.

Hiểu như thế rồi, chúng ta mới thấy ý nghĩa của những câu nói sâu xa như câu sau đây của Gusdorf:

“Siêu hình học chẳng qua chỉ là cái nhìn của con người hướng về vũ trụ: Con người đảm nhận lấy vũ trụ đó, và kiến tạo nó thành vũ trụ. Chúng ta không thể tưởng tượng một vũ trụ không người. Nói vũ trụ là nói một thực tại đã được một ý thức nhìn nhận và tổ chức”.

Khi con người đã ý thức được chủ thể tính của mình, thì vũ trụ liền mất vẻ thần thánh của nó: Những sấm sét, những tinh tú, mặt trời và mặt trăng không còn là những thần linh cao quang nữa, nhưng con người biết rõ đó chỉ là những vật thể vô tri, thua kém con người ngàn trùng.

Hơn nữa, con người nhận định một cách sáng suốt rằng: Không sự vật gì có giá trị tuyệt đối không sự vật nào có khả năng cưỡng bách tôi phải công nhận đó là thế này thế nọ. Ngay cả tha nhân cũng không có khả năng đó: Ngày xưa cha ông chúng ta vì suy tôn các bậc vua chúa, nên dầu các vua chúa đó tham tàn và gian ác đến mấy mặc lòng, cha ông chúng ta cũng không dám nhận xét; hay nói đúng hơn, dầu vua chúa xấu thế nào đi nữa, cha ông chúng ta vẫn coi họ là vua chúa và vẫn dạy con em kính tôn họ.

Triết học hiện sinh là triết con người đã tỉnh ngộ: Con người hiện sinh là con người dám nhìn thẳng vào sự thực, không sống theo những quan niệm trừu tượng, rằng vua chúa thì đáng kính, rằng ông thầy thì minh chính v.v…; con người hiện sinh không sống theo những quan niệm trừu tượng, những luôn luôn cố gắng dùng suy nghĩ để xác nhận ý nghĩa “hiện sinh” tức ý nghĩa thực sự của mỗi người và mỗi vật, cho nên họ không kính ông thầy vì là ông thầy, nhưng chỉ kính ông thầy vì những đức tính trí thức và đạo đức của ông thầy; họ không kính ông thủ tướng vì là ông thủ tướng, nhưng họ chỉ kính ông vì những tài đức của ông ta mà thôi v.v…

Tóm lại chủ thể tính làm cho ta tỉnh ngộ, tự nhận là một nhân vị tự do, có quyền và có nhiệm vụ nhận xét giá trị của mỗi sự vật và mỗi tha nhân mà ta tiếp xúc với. Triết học về thiên nhiên làm chúng ta quên con người và chỗ đứng của mỗi người trong xã hội, trái lại chủ đích của triết hiện sinh là làm cho mỗi người ý thức và ý thức một cách bi đát về địa vị làm người của mình, đồng thời triết hiện sinh nhắc cho ta biết nếu ta thụ động, ta sẽ bán rẻ thiên chức làm người của ta và như vậy chúng ta sẽ rơi xuống hàng sự vật.

Tự do tính

Chủ thể tính làm ta nhận định ta không phải là những sự vật của vũ trụ, nhưng là những nhân vị sống trên thế giới. Tuy nhiên, nói con người có chủ thể tính, chúng ta chưa nói lên được điều chi quan trọng lắm. Nhất là chúng ta chưa nói lên được cái giọng ngang tàng của triết học hiện sinh.

Xin hiểu chữ ngang tàng theo nghĩa tốt của nó. Người ngang tàng là người không chịu đựng trong hàng ngũ của quần chúng vô danh. Người hiện sinh là người ngang tàng, vì họ ý thức rằng mỗi người là một kỳ diệu của Thượng đế, mỗi con người là một cái gì độc đáo. Độc đáo là một trong những đề tài lớn của triết hiện sinh. Chúng tôi sẽ bàn rộng thêm ở phần sau.

Nên biết ngay độc đáo không có nghĩa là lập dị, và ngang tàng không có nghĩa là phá phách. Độc đáo chỉ có nghĩa là mỗi người được sinh ra với những điều kiện thể chất và tinh thần khác hẳn nhau (gia đình giàu hay nghèo, đạo hạnh hay thất đức, êm ấm hay chia rẽ, rồi chỗ đứng của tôi trong hàng ngũ anh em, tôi có nhiều chị hay nhiều anh em trai; học đường; chỗ giao du của tôi và của cha mẹ anh em tôi; sức khỏe của tôi, tính khí của tôi; những cái may và những cài rủi đã đánh dấu đời tôi v.v…): Như vậy tôi không nên và không thể lấy lý tưởng của anh bạn N. làm lý tưởng đời sống tôi, cả đời sống của anh trai tôi cũng khác đời sống của tôi.

Nếu tôi hiểu rằng tôi có những khả năng khác các người ta, – khác không có nghĩa là trội hơn, vì có thể là kém, những kém một cách khác, chớ không phải kém như kiểu một người có một ngàn đồng và người kia có mười triệu đồng; khả năng con người không tính bằng lượng, nhưng tính bằng phẩm, – phải, nếu tôi hiểu khả năng tôi và biết tôi phải tận dụng khả năng đó để thể hiện ý nghĩa cuộc nhân sinh của tôi, tất nhiên tôi không thể sống một cách vô vị, vật vờ như bóng ma và ỷ lại như một người sống bám.

Nói đến những khả năng của mỗi người là nói đến tự quyết nói đến trách nhiệm, và nói đến tự do.

Tự do đây không phải thứ tự do của thế giới tự do. Tự do này bảo đảm và là điều kiện thuận tiện cho sự nảy nở của tự do hiện sinh. Tuy nhiên, tự do của xã hội chưa phải là tự do triết lý và cũng chưa phải là điều kiện đầy đủ. Có nên coi đó là điều kiện cần thiết không? Theo lịch sử, chúng ta phải thưa: Không.

Tự do bên ngoài không phải là điều kiện cần thiết của tự do bên trong, tức tự do hiện sinh. Trần Bình Trọng đã quyết chọn chết vinh hơn là sống nhục. “Thà làm quỷ xứ Nam còn hơn làm vua xứ Bắc”; đó là con người tự do siêu việt, tù ngục và gươm súng đành chịu thua.

Trần Bình Trọng
Trần Bình Trọng

Vậy người tự do thực là người tự đảm nhiệm hành động của mình, không phải tôi làm vì thấy người ta làm như thế, không phải tôi làm vì người ta nghĩ tôi phải làm như thế, không phải tôi làm vì sợ điều này hay sợ người kia, không phải tôi làm vì những mục tiêu đê tiện, và sau hết không phải tôi làm vì thói quen. Người tự đảm nhiệm lấy hành động của mình là người chỉ làm vì ý thức rằng hành động như thế là cách thể hiện ý nghĩa cuộc đời của mình, làm cho bản thân mình thêm phong phú và định mệnh của mình thêm quý trọng. Người thiếu tư cách thường làm cho qua lượt: Họ giống như con mèo luôn luôn phủ nhận hành động của nó vừa để lại trên đống tro; người thiếu nhân cách không ghi nhớ những hành động của mình, trái lại họ muốn quên đi cho xong, vì hành động của họ không ghi một điểm tốt đẹp nào trên đời họ.

Cao hơn một chút, ta thấy “người sống bám” điển hình: Những người này không khác chi những chiếc máy. Họ làm vì người trên bảo phải làm như thế, và họ cứ thế mà làm. Tất cả chúng ta, những người sống theo thói quen, theo đà theo đóm, đều là những người sống đời máy móc của người sống bám. Chính cái thường nhật quá lì lì một mực này đã làm Sartre nôn mửa, Camus thì cho là phi lý, còn Heidegger gọi nó bằng tên thực của nó, ông gọi nó là “tầm thường”.

Bao lâu tôi sống trong tình trạng tầm thường, tôi còn bị chôn vùi dưới làn sóng quần chúng vô danh và vô nhân vị. Tôi chưa dám là tôi. Tôi vẫn cam làm “người ta”. Tôi không có nhân cách. Tôi không phải một nhân vị độc đáo, nhưng chỉ là một đơn vị, một con số thêm vào dân số của thành phố Huế hoặc đô thành Sài Gòn đông đảo. Tại sao thế? Tại vì tôi chưa bao giờ sử dụng tự do tính của nhân vị tôi. Tự do đây mới thực là tự do con người: Tự do đây mới đúng nghĩa là do tôi quyết định, tự tôi đảm lấy. Một hành động tự do là hành động phát xuất tự trong bản thể con người tôi. Nếu tôi chết khi chưa quyết định và cố gắng thể hiện những dự tính về cuộc đời tôi, thì tôi nên biết rằng cuộc đời tôi hoàn toàn vô giá trị: Vô giá trị vì tôi chưa sử dụng tự do tính của tôi; tôi mới chỉ sống như một sinh vật thôi, chưa sống cái kiếp người của tôi.

Tóm lại, trong khi sinh hoạt tự do, chúng ta vừa gặp hai loại người hèn kém.

  1. Loại thứ nhất là loại người vô trách nhiệm: Hoặc họ làm ẩu, cho nên cố tình chối bỏ hành động của mình như con mèo đối với hành động của nó trong đống tro, hoặc họ làm một cách vô ý thức, cho nên làm xong là quên tất cả hành động của mình. Đó là loại người vô nhân cách.
  2. Loại thứ hai, loại người có tâm hồn ỷ lại, luôn luôn sống như “người ta”: Họ có thể có lương tâm, làm việc chu đáo, nhưng họ hành động một cách máy móc: Họ làm vì phải làm như thế, vì người ta làm như thế cả; công việc của họ sẽ được trả bằng tiền, và đó là tất cả nguyện vọng của họ; không bao giờ họ nghĩ rằng hành động của con người phải thăng tiến con người, nhất là không bao giờ họ nghĩ rằng chúng ta phải để con dấu nhân cách trên mỗi hành động của tự.

Cái xe Sachs của tôi có khắc chữ Made in Germany, đó là bảo đảm về phẩm chất. Ước chi mỗi hành động của người tự do đều khắc bằng chữ tinh thần rằng: “Do Bùi Văn X. đảm nhận”. Những loại người sống theo tinh thần ỷ lại không thể vươn lên tới chỗ cao quý đó. Ta phải đợi người tự do. Con người tự do. Triết hiện sinh thường gọi Con người là “sinh hoạt của một tự do tính”:

 “L’homme peut être abordé de deux manières: comme objet de recherche scientifique et comme existence d’une liberté inaccessible à toute science”:

  “Ta có thể đề cập vấn đề con người theo hai lối: Một là như đối trọng cho khoa học sưu tầm, hai là như một tự do hiện hữu vượt trên mọi nhãn giới của khoa học”.

Triết học hiện sinh không ưa gọi con người là hữu thể tự do cho bằng gọi là sinh hoạt của một tự do tính, tức một sinh lực tinh thần thực sự sinh hoạt bằng tự do tính của mình trong những tình trạng cụ thể của thế giới loài người.

Nói tự do, tức nói quyết tuyển. Và đây không phải tuyển lựa giữa hai đồ vật tôi muốn mua, hoặc giữa hai người bạn. Chọn đây là tự chọn con người của tôi: Với những điều kiện chất thể và tinh thần của tôi, tôi biết rõ tôi có thể trở thành một học giả sống thanh bạch, hoặc trở thành một giáo sư cự phú bán phổi xây nhà lầu, hoặc trở thành công chức hạng bự nhưng phải hy sinh đời suy tưởng của tôi; tôi có thể chọn; tôi phải chọn, phải quyết tuyển. Và như vậy, chọn là tự chọn, chọn cho mình làm người trí thức hay chọn làm người bán chữ ăn tiền. Đó là ý nghĩa của câu sau đây của Jaspers:

“Hiện sinh là chủ thể tự nhận mình độc đáo. Thay vì mãi nhìn vũ trụ, chủ thể nọ tự xét mình để tìm ra ở trong mình cái nguồn khả năng hầu như vô tận: Hiện sinh của tôi không phải là cái vốn do thiên nhiên cấp cho tôi; hiện sinh của tôi là chính hữu thể mà tôi phải dùng một chuỗi những quyết tuyển để tác thành và hoàn thành. Như vậy tôi phải luôn luôn vươn lên khỏi cái thường nhật để đạt tới chỗ trung thực của con người tôi”.

Đó là tự do đích thị: Dùng tự do để tự đảm nhận con đường đời mà tôi nhận là sẽ phát triển con người của tôi tới cực độ khả năng của tôi. Mỗi quyết định là một giá trị hiện sinh, vì mỗi quyết định đòi một ý thức thận trọng và một tinh thần trách nhiệm cao cả. Trên đây chúng ta vừa thấy Jaspers so sánh bản tính (nature) và tự do tính. Bản tính là cái chúng ta có chung nhau: Đó là bản tính con người. Các triết gia hiện sinh thường gọi bản tính này bằng danh từ mới: Kiện tính (facticité).

Karl Jaspers
Karl Jaspers

Kiện tính

Kiện tính là tính cách thụ động của con người, xét theo phương diện con người được tạo hóa tác thành: Như thế chưa có chi của con người chủ thể hết. Triết học cổ truyền thường chỉ để ý đến khía cạnh này của con người mà thôi. Trái lại triết học hiện sinh coi kiện tính là khởi điểm: Xét về nhân vị, thì khởi điểm này là một con số không. Cần phải tiến lên, tiến mãi, đừng dừng ở khởi điểm. Cho nên triết hiện sinh đề cao tự do tính (theo nghĩa triết học trên đây, tự do là do chính mình). Chính tự do tính giúp ta tự tác thành lấy nhân vị của mình và hoàn thành nó mỗi ngày mỗi thêm phong phú và giá trị.

Trên đây là tóm tắt lập trường chung của tất cả các khuynh hướng triết hiện sinh. Tựu trung, lập trường đó là lập trường nhân vị (Ta sẽ thấy Mounier, người khai sinh của thuyết nhân vị, cũng tự xưng là triết gia hiện sinh và ông kê khai rõ gia phả của ông trong đại gia đình hiện sinh).

Triết học cổ truyền hướng về vũ trụ và bỏ quên con người; triết hiện sinh chỉ suy nghĩ và tìm hiểu con người mà thôi, và con người đây không phải là con người phổ quát và trừu tượng, nhưng là con người hiện sinh. Đã thế, mỗi người đều có khả năng riêng và hoàn cảnh sinh hoạt riêng, triết lý có nhiệm vụ giúp con người nhận thức cái vốn đó (kiện tính) để khai thức cho đến mức toàn hảo (tự do tính).

Hình Thức

Nội dung triết học hiện sinh khác nội dung triết cổ truyền. Hình thức còn khác xa hơn nữa. Tri thức của triết cổ truyền là biết bản tính sự vật, cho nên ta thấy các tác giả cổ điển luôn luôn dùng phương pháp phân tích và những câu định nghĩa: Họ làm thế, vì họ thông hễ biết bản tính sự vật là biết tất cả rồi. Mà bản tính sự vật là gì? Là cái gì mà tất cả các vật của một loại đều có như nhau. Thí dụ bản tính con người là “một con vật có lý trí”. Mà có lý trí thì có suy luận, có suy luận thì biết chọn điều thiện bỏ điều ác v.v…

Tóm lại triết cổ truyền chủ trương con người có thể biết bản tính sự vật, và tất nhiên cả bản tính con người nữa. Trái lại triết hiện sinh tuyên ngôn rằng chỉ mình Thượng đế biết bản tính sự vật, còn chúng ta chỉ có những cái nhìn phiến diện về sự vật: Nhìn nhiều lần và nhiều chiều hướng khác nhau, qua những luồng ánh sáng khác nhau, chúng ta dần dần biết thêm mãi về sự vật.

Cho nên thay vì dùng những câu định nghĩa trừu tượng và phổ quát, triết hiện sinh chủ trương dùng mô tả. Mỗi tình trạng mới, mỗi đổi thay của hoàn cảnh, chúng ta thấy con người để lộ thêm một trắc diện (profil) của họ, và đó là dịp duy nhất để ta biết họ thêm. Tôi chưa thấy người bạn tôi giận dữ bao giờ, những đợt có sự khủng hoảng giữa tình bạn hoặc trong đời sống riêng tư của người bạn, tôi thấy người bạn giận: Đó là bộ mặt mới của họ, vì mỗi người có một cách giận khác nhau.

Trong một phần sau, khi nói về Husserl, chúng tôi sẽ trình bày đầy đủ về lối văn mô tả này. Bây giờ chỉ xin nói tổng quát rằng: Lối diễn tả của triết hiện sinh không trừu tượng như những câu định nghĩa của triết cổ truyền, nhưng là những trang mô tả về các cảnh huống của con người có xương có thịt. Thay vì những bộ luận kết thành bởi những câu định nghĩa phổ quát, xây trên những câu tam đoạn luận trừu tượng, chúng ta gặp nơi các triết gia hiện sinh những hình thức văn chương hiện sinh: Nhật ký, kịch trường, tiểu thuyết.

soren kierkegaard

Søren Aabye Kierkegaard 

Kierkegaard Marcel đã để lại những cuốn nhật ký. Sartre, Marcel, Camus đã cho xuất bản những kịch triết lý. Sartre còn để lại nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn. Các triết gia khác, như Heidegger, Jaspers, Merleau-Ponty, Mounier, tuy không viết tiểu thuyết và kịch bản, nhưng các trang sách của các ông luôn luôn là những phản ánh sống động của sinh hoạt con người ý thức về định mệnh của mình. Có thể nói tắt rằng lối văn của triết hiện sinh là văn mô tả và mô tả nhưng cảnh huống sinh hoạt thực sự của con người thời đại.

Kết Luận

Triết học hiện sinh là triết dạy ta suy nghĩ về thân phận làm người. Văn của triết hiện sinh là văn mô tả – đôi khi tả chân quá – nhưng chủ ý của họ không phải gì khác cho bằng vạch cho ta thấy vẻ buồn nôn của con người tầm thường, hòng thức tỉnh con người chỗi dậy, bỏ cách sống của sự vật để khai mạc một đời sống nhân vị, nhân vị cao cả của con người tự do.

——————
Trần Thái Đỉnh

Avatar of Chim Én
 | Website

Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội

Leave a Reply