banner web

Đinh Hùng – Quán quân thơ “văn chương toàn quốc” năm 1961

Đinh Hùng

Đinh Hùng sinh năm 1920 mất năm 1967, con út môt gia đình trung lưu, gốc làng Phượng Dực ( tỉnh Hà Đông) – từ lâu ra lập nghiệp tại Hà Nội. Ông bà Phán, còn gọi ông bà Hàn, sinh được hai trai, bốn gái. Trưởng nam Đinh Lân, và các chị Loan, Yến, Hồng, và Thục Oanh- cô chị này hơn cậu em 1 tuổi và chiếm được trọn vẹn tin yêu của cậu em khó tính là Đinh Hùng. Thật vậy, Đinh Hùng từ nhỏ đã khó tính, lại ưa cô đơn.

Hoàn cảnh gia đình

Sống trong 1 gia đình đông vui, mà Hùng vẫn tưởng đâu là đang sóng giữa chiếc đảo nhỏ nhoi giữa một quần đảo, tứ bề xa cách. Phải chăng vì bà Phán hoài thai nhà thơ của chúng ta ở Manila ( Philippines) – nơi ông Phán được bổ nhiệm sang đây làm Chánh văn phòng Tòa Lãnh sự Pháp từ 1918. (theo Tạ Tỵ- sách đã dẫn).

Chị ruột ông, Đinh Thị Thục Oanh ( sinh 1919 ở Manila) còn Đinh hùng sinh sau 1 năm – đích thị bà Phán đã hòai thai chàng thi sĩ bẩm sinh từ nơi quần đảo xa xôi ấy- sau này Vũ Hoàng Chương đã cho rằng thơ của cậu em vợ đã chịu ảnh hưởng này cách bất ngờ, rơi rớt lạc vào dòng thơ, có câu:

“…Hỏi bao quần đảo vừa ly tán

Trần tục là đâu hỡi đất bằng ! “

(Mê hồn ca)

 Vẫn theo Vũ Hoàng Chương Đinh Hùng bị cú sốc tinh thần vào lúc 11 tuổi – hoa khôi Đinh Thị Tuyết Hồng nhảy xuống hồ Trúc Bạch tự vẫn. Cái chết của người chị trước đó, kéo theo sau tang tóc từ cụ thân sinh thất lộc khi tuổi chưa tới 50 – rồi 3 năm sau Đinh Hùng lại phải từ biệt một người chị đã lập gia đình, mà tuổi còn rất trẻ. Người chị cả đó là chị Loan.

Đinh Hùng tốt nghiệp Tú tài bản xứ- vừa khi đó- ông lại bị cú sốc tình đầu – yêu đơn phương một chiều- nàng Kiều Hương. Nàng đi lấy chồng, hệt Tố của Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng khắc họa chân dung nàng qua thơ:

“ Tần Hương ôi Tần Hương

Tên nàng như hoa đẹp

Chàng là bướm tơ vương

Nên chàng là Hoài Điệp…”

( Đường vào tình sử)

(…)

Qua một thời gian tham gia Kháng chiến ở Khu IV – bỗng một ngày kia, khăn gói lẩn trốn về Thành (Hà Nội) – lại gặp được ngay Hồ Dzếnh lúc này đã là chồng bà Nhật- chủ một hiệu sách Bình Minh ở góc Phố Huế + Reinach)- Hồ Dzếnh đọc xong, nhận in ngay ” Mê hồn ca”. Khi đang xúc tiến in, gần xong, thì Hội nghị Genève 1954, Việt Minh và Pháp ký hiệp định chia đôi Việt nam – thì Mê hồn ca chịu chung số phận. Kẻ bỏ tiền in không có cơ hội phát hành ở ngoài Bắc, lại cũng không di cư vào Nam – Hồ Dzếnh giao cho tác giả cả ngàn tập Mê hồn ca cùng tác giả di cư vào Saigon- vừa phát hành, vừa bán, vừa tặng.

Rồi Đinh Hùng làm “chủ soái ban Tao Đàn” – từ 7 giờ tối hàng đêm réo rắt giọng ngâm thơ nhiều tài tử, nghệ sĩ tài danh: nào những Quách Đàm, Hoàng Thư, Tô Kiều Ngân, cả ca sĩ Thái Hằng và Hồ Điệp – một giọng ngâm thơ thật đặc biệt sáng giá! .

Vào đầu thập niên 1960, một chuyện như giai thoại thật trớ trêu xảy ra – khi chủ soái Tao Đàn mặc complet xám chững chạc, vừa hoàn thành thâu thanh, bước ra khỏi Đài Phát thanh Saigon – một cô chặn lại hỏi:

– thưa ông, có phải ông là Đinh Hùng?

– Phải, chính tôi – Đinh Hùng đáp.

Người vừa lên tiếng hỏi chủ soái ban Tao Đàn- một cô mặc đầm, nói năng lễ độ, miệng cười tươi. Nghe xong câu thứ 2, Đinh Hùng ngỡ ngàng:

– Ông có nhớ 3 câu thơ mà ông vừa ngâm trên ban Tao Đàn tối thứ 2 không?

– Nhớ chứ, 3 câu ca dao nói về Án sát, Tuần phủ chứ gì? Đinh Hùng đáp.:

– Rất đúng thưa ông, và bắt đầu bằng:

– “ Thứ nhất rắn hổ mang hoa

– thứ 2 Trần Tán..

– thứ 3 là Bùi Bành“

– có phải không ạ ?

– …mà ông có biết Trần Tán… là ai không nhỉ?

Đinh Hùng chưa kịp trả lời – nét mặt duyên dáng cô gái biến sắc, chuyển sang ”tông” khác – cúi xuống lấy chiếc guốc dưới chân trái, rồi nện thẳng vào đầu nhà thơ.

– Trần Tán là Trần Tán Bình, ông nội tôi. Bố tôi là con Cụ Tuần Bình: Trọng Lang- Trần Tán Cửu, chắc là ông có biết?

– Nói xong, bỏ chiếc guốc vào chân trái, bước ra xe rất nhanh – Một sĩ quan mặc đồ trận chờ ở ngoài lề đường – chở trên xe gắn máy đi mất tăm.

– Thấy Đinh Hùng lấy tay ôm đầu máu, Hoàng Thư (thì phải) lại dìu vào quán phở 44 đối diện. Hỏi han, Hoàng Thư cho biết tên sĩ quan chở cô em phang guốc vào đầu Đinh Hùng – đó là trung úy Trần Tán Đ…- trưởng nam nhà văn tiền chiến Trọng Lang có tên thật Trần Tán Cửu.

Rồi tới một buổi trưa thứ 7, trước cửa nhà số 38 đường Tú Xương ( Saigon 3) là Trường Cán sự Xã hội Caritas- tôi đến để đón C.M.N. và gặp Đinh Hùng vẫn trong bộ cánh “complet xám” tự khai: ”ông đón ai, còn tôi đón nàng thơ có phương danh Hoài Diệu“ Và Đinh Hùng kể tiếp:

– Đáng lý ”toa” phải lãnh nguyên cái guốc mới phải – thế mà “moa” đã phải nhận thay ”toa” rồi đấy! “Toa” có nhớ không, chỉ vì 3 câu” vè” phải gió căn răng trong ”Nhà văn tiền chiến…” của ”toa” – “ moa” cho ngâm trên “ Tao đàn” – mà giờ này đầu “moa” còn “u” một cục!

Đinh hùng giải nhất giải thơ toàn quốc

Năm 1961, Đinh Hùng được giải nhất – Giải thưởng Thơ Toàn quốc – sách in tuyệt đẹp (linograph) tại” Kim Lai Ấn quán”:- với lời tựa đính kèm rất trịnh trọng của “thi sĩ” Đoàn Thêm, tay này đậu Cử nhân Luật thời tây – bấy giờ là đương kim Phó Đổng lý Phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông là tác giả đôi ba tập thơ, sách viết về lý luận thơ, dịch sách hội họa vv.. Dư luận phê ”ngầm”:

– Có “ ông Phó” Đoàn Thêm “đề tựa” thì ”Đường vào tình sử” của Đinh Hùng, “ bố” thằng giám khảo nào dám tự ý “lắc đầu” không bỏ phiếu thuận.

Cùng nghe Du Tử Lê, tác giả Năm sắc diện, năm định mệnh: Đinh Hùng, Bùi Giáng, Tô Kiều Ngân, Thanh Tâm Tuyền, Thế Phong – Saigon 1965 kể về giai thoại giải thưởng kia – với lý do nào Đinh Hùng “dễ“ được bỏ phiếu thuận để “ẵm” chót lọt Giải thơ Toàn quốc của Tổng thống Diệm?

Trước tiên, sách phải in đẹp, bây giờ chỉ có Nam Chi Tùng Thư (với Lãng Nhân làm giám đốc), in đẹp nhất là Kim Lai Ấn quán, do tổng quản lý “kỹ thuật” Nguyễn Doãn Vượng. mà thôi. Anh là thi sĩ, được lắm – thơ có hay không nhưng trước tiên còn phải có tiền in thơ cho đẹp vào – thì mới lọt mắt Ban Giám khảo… Nếu không sẵn tiền cho lắm, – thì anh phải kiếm được người” sáng giá” viết” tựa”- cỡ ông Phó Đổng lý Tổng thống phủ Đoàn Thêm chẳng hạn thì mới” ăn giải” được!

Nhưng muốn có tiền để in thơ – sắp chữ linograph – tư nhân chỉ có Kim Lai Án quán, ắt phải có Bình Nguyên Quân; nhưng là ai đây? .

Xin trả lời ngay

– Ông Đoàn Thêm, tác giả thi tập ”Nhạc dế”- chuyên viên hàng đầu viết diễn văn cho Tổng thống Diệm đọc, và Đinh Hùng muốn in thơ ở Kim Lai Ấn Quán, ắt phải ”cậy ông ta đề tựa” .

Vẫn theo Du Tử Lê- hồi đó Thế Phong gặp Đoàn Thêm, đã nói ngay:

“ … Anh Đinh Hùng rất buồn khi phải cậy anh đề tựa…”

Đoàn Thêm trả lời:

– Đó là tự ý Đinh Hùng cậy nhờ tôi…”

Thế Phong bồi thêm:

-Thế mà.. thực sự anh ấy không cảm thấy sung sướng một chút nào?!”

Gần đây,khi hỏi về chuyện ấy, chính miệng Đinh Hùng tiết lộ Du Tử Lê hay- viết tựa kia là ngoài ý muốn Đinh Hùng. Thật ra, chẳng phải ông Đoàn Thêm bắt buộc phải có’ tựa”- nhưng muốn được in thơ ( tại Kim Lai Ấn quán) thì đành phải nhờ tới Đoàn quân thôi. Cùng năm, Đinh Hùng gửi ”Đường vào tình sử’ dự giải Văn chương Toàn quốc – thì Ban giám khảo bộ môn Thơ là ”học giả“ Đông Hồ và thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, cả hai bỏ phiếu tán thành Đinh Hùng chiếm giải nhất“.

Trước khi trình Phủ Tổng thống ”ngự lãm”, theo tôn ti phép vua, phải qua ông Ngô Trọng Hiếu- Bộ trưởng Bộ Công dân vụ.

Nhưng…Lại phải thêm chữ ”nhưng” Ban Giám khảo Thơ gửi bản đề nghị đề cử Đinh Hùng xứng đáng chiếm giải 1 – thì giám khảo viên Phạm Đình Tân (ở ban khác) nhất nhất không đồng tình treo giải quán quân Bộ môn thơ cho Đinh Hùng. Bởi, Phạm Đình Tân còn là chủ soái” cái gọi là” Tinh Việt Văn Đoàn”, chủ nhiệm tuần báo ”Văn đàn”- lại” ỷ” có bác sĩ Trần Kim Tuyến (văn hữu xưa trong nhóm) nay Giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị- Xã hội (một tên khác: Mật Vụ) – từng là dịch sách ”Định mệnh con người” do Nxb Văn đàn in ấn.

Do vậy, Phạm Đình Tân muốn ”cậy nhờ” ông Trần Kim Tuyến- “kính chuyển tờ phúc trình mật” – ý kiến ‘Tinh Việt Văn đoàn” không đồng tình treo Giải nhất thơ về tay tác giả tác phầm” Đường vào tình sử” .

Tổng thống Diệm đọc xong phúc trình- cho gọi ngay ông Lê Văn Thái (tự Thái Trắng- phụ tá ông Trần Kim Tuyến) vào Dinh.

Tổng thống Diệm phán:

– Sao treo giải Thơ cho một cuốn như ri…?

– Ông Lê Văn Thái – cánh tay phải Bác sĩ Tuyến, Chánh sở Mật Vụ -hoảng hốt- vì đọc hay chưa hề đọc “Đường vào tình sử” thì không biết:

-“…dù có đọc, tôi (Du Tử Lê) chắc người ấy chả hiểu gì…?

-Và ông Lê Văn Thái đành khất Tổng thống phúc trình đầy đủ sau.

– Vẫn theo Du Tử Lê (Năm sắc diện…. – sách đã dẫn), ông Lê Văn Thái bèn “mò” ra ”La Pagode” (ngã tư Lê Thánh Tôn + Tự Do) hy vọng gặp được Thế Phong, chàng ta thường ngồi cà phê cùng bạn bè tại đây. Tay này thường ăn sáng, với bánh kẹp Croque Monsieur, và ly cà phê đen ”tổ bố” (khi rủng rỉnh quý kim) – Du Tử Lê viết vậy. .

Từ lâu” Quán Cái Chùa” là nơi gặp gỡ của anh em làm văn chương. Tìm ai, chúng ta ( đây vẫn là Du Tử Lê ) chỉ cần sáng sáng hoặc chiều chiều là gặp thôi. Và Thái Trắng đã gặp được Thế Phong thật. Rồi Thái Trắng dạm ý – thì Thế Phong  trả lời đại để:

“đem Bàng Bá Lân so với Đinh Hùng – ai là người xứng đáng chiếm giải quán quân Thơ năm nay ư? Kẻ xứng đáng thì không thể Bàng Bá Lân được, mà phải là Đinh Hùng, bởi lẽ: ”Đinh Hùng trúng giải là làm vinh dự cho giải Thơ – còn giải thưởng thì không thể tạo vinh dự cho Đinh Hùng được!”.

 Sau cùng, Hội đồng Giám khảo Giải văn chương Tổng thống năm 1961 đề bạt Đinh Hùng chính thức nhận giải 1- lại còn được bầu làm đại diện viết diễn từ đọc trước quan khách vào ngày Tổng thống trao giải tại Dinh Độc Lập. Và “gà thơ dự giải Bàng Bá Lân“– từ “chuồng” Tinh Viêt văn đoàn” – chủ xị Phạm Đình Tân ‘thả” “gà tranh giải thơ“ bay vụt ra – nhưng chẳng mấy chốc bị đánh bật ra ngoài lề một cách không thương tiếc!

Bài thơ Kỳ nữ của Đinh Hùng được Thế Lữ khen từ thời mới vào nghề, liệu có thể gọi là một bài thơ hay? Thật ra thì không hay lắm, nhưng ít ra cũng làm điểm tựa cho tác giả tin khả năng thi ca bước đầu không tệ lắm đâu! Có những câu:

“ Có con đường sao mọc lúc ta đi

Cả chiều sương mây phủ lối ta về

Khắp vũ trụ bỗng vô cùng thương nhớ

Vì người em có bao phép nhiệm mầu

Một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc

Ta đặt Em lên ngai thờ Nữ sắc.”

 hoặc rất ”mô- nô -tôn”(monotonie), như trong “Thần Tụng”:

“…. Mây lòng vương giả bơ vơ từ thuở suy vong nửa cuộc giao tranh sầy đến tâm tình gỗ đá, kẻ phong sương, người lữ quán đã chưa kinh kỳ ảo tưởng, đã xoay nghiêng gác phấn lầu son. Từng điểm tinh anh lang thang những chiều tái tạo, bốn mùa hôn phối hiện lên thanh sắc cỏ cây, màu quân tử, nét văn khô, tuy chẳng cơn mưa móc từ bi cũng bừng nở…”.

Xu hướng thơ Đinh Hùng – đó là thơ viết theo hướng hoài vọng cá nhân. Và chưa có một thi sĩ nào có thể đem cái riêng tư sầu kín phản ánh qua thơ trung thực hơn Đinh Hùng- hoặc nói một cách khác – thì thơ ông đầy tính chất thần kỳ, ma quái, ý tưởng càng quái đản, nào hồn ma siêu phách, thế giới âm ty – nhưng thơ tình yêu lại rất cuồng nhiệt cụ thể! Đôi khi thôi, đọc thơ Đinh Hùng, người đọc hình dung được trong đầu thế giới vàng son, cung ngà, điện ngọc- như phảng phát đâu đây:

“ Gió trăng ngự uyển buồn sâu sắc

Thử bước vào xem cung điện ma ..”

 Đinh Hùng thường bị ám ảnh, luẩn quẩn – thơ chàng thi nhân của lầu son, gác tía, xưa kia thích than mây, khóc gió – thì nay đã không còn! Bây giờ thế kỷ XX, chàng đành chấp nhận mặc bộ complet từ phương Tây du nhập, dấn thân đời trần tục, ta bà – lại không thể dễ quên thế giới hồng hoang!
————–
Thế Phong

Đinh Hùng
Đường Vào Tình Sử – Đinh Hùng

Giải mã thơ Đinh Hùng

Đinh Hùng là một trong những nhà thơ rất tiêu biểu cho trường phái thơ tượng trưng Việt Nam. Đây là nhà thơ mà cuộc đời có nhiều thăng trầm và nhiều nỗi đau. Ngay cả cho đến giờ, dù rất nhiều người thừa nhận tài năng của ông nhưng những vần thơ của ông vẫn ít được độc giả biết đến. Bên cạnh đó, việc giải mã những bài thơ tượng trưng của ông vẫn là một thách thức lớn cho nhiều nhà nghiên cứu, phê bình.

  1. Những biểu tượng đẹp:

Đinh Hùng viết rất nhiều bài thơ ca ngợi vẻ đẹp con người, vẻ đẹp thiên nhiên. Đó không chỉ là vẻ đẹp khiến cho thi sĩ cảm thấy rung động và muốn viết nên những bài thơ ca ngợi như nhiều nhà thơ vẫn thường làm. Vẻ đẹp trong thơ Đinh Hùng có sức mạnh rất ghê gớm. Nó khiến nhà thơ yêu cuồng nhiệt, muốn tan chảy vào đó, hòa vào đó. Đó là vẻ đẹp dù không cần đến chất men cũng khiến người ngắm phải say và điên đảo.

Trước hết, đó là biểu tượng người kỳ nữ:

Ta thường có những buổi sầu ghê gớm

Ở bên em-ôi biển sắc rừng hương!

Em rực rỡ như một ngàn hoa sớm

Em đến đây như đến tự thiên đường

……

Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa

Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết

Ôi cám dỗ! Cả mình em băng tuyết

Rộn xuân tình lên bệ ngực thanh tân

……

Hỡi kỳ nữ! Em có lòng tàn ác

Ta vẫn gần- ôi sắc đẹp yêu ma

Lúc cuồng si nguyền rủa cả đàn bà

Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết

Ta sẽ chết, sẽ vì em mà chết

Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn

Ta hái trong em lấy đóa hoa hồn

Đinh Hùng đã xây dựng một hình tượng kỳ nữ rất đẹp, rất tinh khiết, thanh cao. Đó là một giai nhân tuyệt sắc tựa như ngàn hoa buổi sớm, như biển sắc rừng hương hay như một thiên sứ đến từ thiên đàng.

Thế nhưng Đinh Hùng đã nâng hình tượng của kỳ nữ lên một nấc cao hơn khiến cho cô trở thành biểu tượng của cái đẹp chứ không đơn giản chỉ là hình ảnh của giai nhân. Sắc đẹp ấy vừa khiến nhà thơ muốn gần gũi, chiếm lĩnh vừa làm cho ông phải đứng xa tôn thờ. Nó cứu rỗi tâm hồn ông để ông mãi sống với biểu tượng đẹp ấy: Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết. Nhưng nó cũng làm cho ông phát điên và khát khao được chết dưới cái hôn của người đẹp để cả hai cùng hòa lại làm một:

Ta sẽ chết, sẽ vì em mà chết

Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn

Ta hái trong em lấy đóa hoa hồn

Và ông còn khám phá ra một bản chất khác của cái đẹp là cái ác. Đây là điều mà các nhà thơ lãng mạn không hề nói tới bởi lâu nay người ta vẫn quan niệm đẹp là trong sáng, là thánh thiện, là thanh cao. Thế nhưng không phải Đinh Hùng không có lý vì xưa nay bao nhiêu vương triều sụp đổ cũng có sự tham gia của người con gái đẹp. Câu chuyện về Đác Kỷ và Trụ Vương, Bao Tự và vua Kiệt, Phi Yến và Hán Vũ Đế, nàng Tây Thi và vua Ngô Phù Sai, nàng Điêu Thuyền và Đổng Trác, nàng Dương Quý Phi và Đường Minh Hoàng…vẫn còn đó như một minh chứng lịch sử về tai họa do cái đẹp gây ra. Do đó, Đinh Hùng đã gọi kỳ nữ:

Hỡi kỳ nữ! Em có lòng tàn ác

Ta vẫn gần- ôi sắc đẹp yêu ma

Cho dù cái ác xuất hiện song hành với cái đẹp, một sắc đẹp ma quái nhưng cái ác ấy vẫn không làm cho nhà thơ run sợ bởi cái đẹp đã thắng thế. Cho dù biết cô gái có lòng tàn ác thì nhà thơ vẫn muốn gần gũi. Cho dù biết rằng sắc đẹp ấy sẽ giết chết mình, nhà thơ vẫn tình nguyện được chết trong đôi môi của người đẹp.

Quả thực, Đinh Hùng đã xây dựng được một biểu tượng người phụ nữ rất đẹp. Nó vừa thực vừa mộng, vừa lung linh, vừa huyền ảo. Đối với ông, biểu tượng ấy có sức mạnh vạn năng khiến ông có lúc tưởng như nó ở trên thiên đường để ông tình nguyện sống mãi và tôn thờ. Tuy nhiên, ở một thời điểm khác, ông lại thấy nó mang hình ảnh của yêu ma để rồi ông lại tình nguyện chết vì nó mà không hề hối tiếc.

Không chỉ dừng lại ở người kỳ nữ, đối với Đinh Hùng, thần chết đôi khi cũng là một biểu tượng của cái đẹp:

Nàng nằm mộng suốt đêm hè dưới nguyệt,

Nụ cười buồn lay động ánh trăng sao.

Xa nấm mồ, chúng ta cuồng dại hết,

Để yêu tà về khóc dưới non cao.

(Tìm bóng tử thần)

Rõ ràng, khi nhà thơ gán cho Tử thần vẻ đẹp của người con gái, lập tức tử thần trở thành một biểu tượng lung linh, huyền ảo. Thi sĩ không chỉ nhìn thấy vẻ đẹp hình thể của người con gái khi còn sống mà dưới ánh trăng mờ ảo, sắc đẹp ấy trở nên diệu kỳ hơn bao giờ hết. Con người và thiên nhiên chan hòa làm một, cùng vẽ nên một bức tranh tuyệt sắc. Không những thế, thiên nhiên còn say đắm vẻ đẹp của Tử thần: Nụ cười buồn lay động ánh trăng sao. Và dĩ nhiên Đinh Hùng cũng không thoát khỏi sự quyến rũ đó. Sắc đẹp khiến ông vượt qua nỗi sợ hãi trong lòng để đi đến quyết định táo bạo: yêu Tử thần:

Ta cười suốt một trang thơ,

Gặp hồn em đó còn ngờ yêu ma.

Giáng Tiên đâu? Thế kỷ gian tà,

Dạo chơi bình địa tưởng qua hai tần.

Đi đi, cho hết dương trần,

Ngày mai tìm bóng Tử thần mà yêu!

Có thể thấy, lâu nay nói đến Tử thần là người ta hay nghĩ đến biểu tượng của cái chết, của sự hủy diệt. Do đó, có lẽ chỉ có Đinh Hùng mới tìm thấy ở người sự quyến rũ của cái đẹp, của tình yêu và thậm chí là cả một tâm hồn thanh cao. Bởi vì, những điều nhà thơ chứng kiến trên thực tế, trong cõi thực khiến nhà thơ cảm thấy quá chán nản và thất vọng:

Cây Từ Bi hiện đóa Ác Hoa đầu,

Hồn gặp Hồn, ai biết thiện căn đâu?

Và giờ đây, ông chỉ tin vào những điều ở thế giới bên kia, ở một nơi huyễn hoặc, mộng ảo. Ông thành khẩn van xin nàng tin rằng, cho dù mình khác thế giới với nàng nhưng vẫn giữ tấm lòng trinh bạch:

Xin Thần Nữ tin lòng tôi trinh bạch,

Đốt kỳ thư còn mộng nét văn khôi.

Quả thật, Đinh Hùng đã xây dựng cho mình một biểu tượng tử thần mới, biểu tượng của tình yêu, cái đẹp và sự thanh cao.

Nếu đọc hết những bài thơ của Đinh Hùng, người ta chắc chắn sẽ gán cho ông tên gọi thi sĩ của tình yêu như họ đã từng gọi nhà thơ tình Xuân Diệu. Ông đã dựng nên rất nhiều bức tượng đài về cái đẹp, về tình yêu nhưng có lẽ biểu tượng đẹp nhất, lung linh nhất theo cảm nhận của người viết là biểu tượng con đường tình yêu trong bài: Đường vào tình sử, một biểu tượng được ghép lại từ rất nhiều biểu tượng khác nhau tạo nên một con đường vừa đẹp, vừa buồn, vừa nhuốm màu sử thi, hoài cổ:

Phơi phới thuyền ta vượt bến,

Từ đêm hồng thuỷ ra đi.

Lòng ta dao cắt

Chia đôi

Biên thuỳ,

Dòng máu kinh hoàng chợt tỉnh cơn mê.

Chúng ta đi vào lá hoa Tình Sử,

Hơi thở em hoà sương khói Đường thi.

Anh đọc cho em những dòng cổ tự

Ai Cập và Cổ Ly Hy.

Anh viết cho em bài thơ nho nhỏ

Bài thơ xanh ánh mắt hẹn tình cờ,

Có những chữ Hoa yểu điệu,

Không phải đại danh từ.

Con đường tình yêu này rất dài, rất dài. Nó có hoa, có hương thơm, có âm thanh, có màu sắc. Tất cả là hiện thân của tình yêu. Nhưng tình yêu không chỉ đơn giản vậy:

Chúng ta đến nghe nỗi sầu tinh tú

Những ngôi sao buồn suốt một chu k ỳ

Những đám tinh vân sắp sửa chia ly,

Và sao rụng biếc đôi tay cầu nguyện.

Ôi cặp mắt sáng trăng xưa hò hẹn,

Có nghìn năm quá khứ tiễn nhau đi.

Tình yêu có lúc vui và có lúc buồn. Những lúc buồn, tác giả cảm thấy như vũ trụ này cũng đang tan chảy, cũng thấm màu biệt ly. Và chặng đường đi tìm người yêu là chặng đường mà tác giả phải vượt qua rất nhiều nơi trong trái đất, vượt qua rất nhiều vòng quay của vũ trụ từ quá khứ đến tương lai. Có rất nhiều biểu tượng mà nhà thơ đã bắt gặp trên con đường ấy: lá hoa Tình Sử, bài thơ xanh, chữ Hoa yểu điệu, đôi hồn tình tự, cung đàn hoài vọng, khúc nhạc lang thang,…

Có thể thấy, mỗi người có thể có một cách đi tìm tình yêu của riêng mình. Thế nhưng, cách mà Đinh Hùng đã đi tìm tình yêu quả là rất lạ. Một con đường đầy rẫy những sự hóa thân hư hư thực thực, mờ mờ ảo ảo. Dù sao đi nữa, Đinh Hùng cũng đã xây dựng cho mình một con đường đi đến trái tim đầy thú vị bằng chính sự giao cảm tâm hồn của người đang yêu.

  1. Giao cảm với cõi hư vô:

Cũng như các nhà thơ tượng trưng khác, Đinh Hùng cũng có những sự giao cảm bí mật với vũ trụ, với thế giới tâm linh.

Khi miếu Đường kia phá bỏ rồi

Ta đi về những hướng sao rơi

Lạc loài theo hướng chân cầm thú

Từng vệt dương sa mọc khắp người

Rồi những đêm sâu bỗng hiện về

Vượn lâm tuyền, khóc rợn trăng khuya

Đâu đây u uất hồn sơ cổ

Từng bóng ma rừng theo bước đi

(Những hướng sao rơi)

Như vậy, thời gian và không gian trong thơ ông đã hòa lại làm một. Con người và vũ trụ, linh hồn không có sự phân biệt. Chính những cảm xúc cuồn cuộn trong lòng đã làm cho sự giao cảm của nhà thơ trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết:

Từng buổi hoàng hôn xuống lạ kỳ

Ta nằm trên cỏ lắng tai nghe

Thèm ăn một chút hoa man dại

Rồi ngủ như loài muôn thú kia

(Những hướng sao rơi)

Nỗi khát khao giao cảm, khát khao hòa mình với thế giới tâm linh, với vũ trụ làm cho các câu thơ mang màu sắc sử thi, huyền hoặc:

Ta lảo đảo vùng đứng lên cười ngất

Ghì chặt nàng cho chết giữa mê ly

Rồi dày xéo lên sông núi đô kỳ

Bên thành quách ta ra tay tàn phá

Giữa hoan lạc của lâu đài, tình tạ

Ta thản nhiên đi trở lại núi rừng

Một mặt trời đẫm máu phía sau lưng”

(Bài ca man rợ)

Rõ ràng, nhà thơ muốn phá bỏ hết những trói buộc xung quanh mình, muốn hét thật to trong vũ trụ, muốn giải phóng cái tôi để làm những gì mình muốn, mặc sức yêu và mặc sức điên cuồng. Ông muốn xóa bỏ khoảng cách giữa mình và vũ trụ.

Có lẽ Đinh Hùng đã yêu vũ trụ, yêu thế giới tự nhiên và yêu cái đẹp trên cả mức mong muốn chiếm hữu. Ông viết về chúng như một thứ tôn giáo để tôn thờ, để khám phá bằng sự hòa hợp tâm linh. Chỉ có như thế mới mong thỏa mãn được những khát khao cháy bỏng trong tâm hồn tác giả:

Trời cuối thu rồi em ở đâu?

Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?

Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy

Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu…”

(Gửi người dưới mộ)

Ở Đinh Hùng, cái chết chẳng có gì đáng sợ cả bởi ông có thể đi qua đi lại trên ranh giới giữa sự sống và cái chết. Chẳng gì có thể ngăn cản ông thực hiện mong muốn của mình:

Ta hát bài kinh, thoảng dã hương

Từng đêm chiêu niệm bắt hồn nàng

Lời ra cửa biển tìm sao rụng

Rỏ xuống mộ em giọt lệ thương…”

(Màu sương linh giác)

Có thể nói rằng, những câu thơ, những bài thơ thể hiện sự giao cảm một cách đầy bí ẩn của nhà thơ với thế giới tâm linh, thế giới mộng ảo đã chứng tỏ một điều rằng, trên đời này, chẳng có gì có thể làm cho con người cảm thấy sợ hãi kể cả cái chết. Tâm hồn con người luôn luôn có một sức mạnh và một phép màu nhiệm hết sức kỳ lạ trong vũ trụ. Nó có thể thỏa sức tung hoành làm những gì nó muốn, nó có thể xóa nhòa ranh giới giữa thời gian và không gian, có thể xóa nhòa giữa sự sống và cái chết. Điều đặc biệt nhất, nó có thể khám phá được cả những nơi u tối nhất, kỳ ảo nhất của vũ trụ mà không cần nhờ đến những khám phá khoa học.

Mê Hồn Ca
Mê Hồn Ca
  1. Tắm mình trong những nốt nhạc thơm:

Từ nhạc luôn luôn có một vị trí quan trọng trong thơ tượng trưng và Đinh Hùng đã không quên điều đó. Những câu thơ của ông được sắp xếp chặt chẽ tạo thành hiệu ứng của một bản tình ca ngọt ngào khiến người đọc cảm thấy như đang đắm mình trong một bản nhạc chứ không phải là một bài thơ:

Giữa hư không tìm lại vết chân Người,

Ôi xứ Đạo có bao mùa tình tự?

Trong bản hát thiêng

Của bầy thanh nữ,

Có ai về ngự,

Giữa lòng thuyền quyên?

Trong mộng trần duyên

Của hồn thiên cổ,

Có ai vào ngủ

Một giấc cô miên?

Trời ơi! Đây nguyệt vô biên

Trong lòng người đẹp nằm quên dưới mồ!

Ta cười suốt một trang thơ,

Gặp hồn em đó còn ngờ yêu ma.

(Tìm bóng tử thần)

Bằng cách kết hợp giữa thơ lục bát dân tộc và thơ mới cùng cách gieo vần chân hiệu quả, Đinh Hùng đã mang đến cho người đọc một bản nhạc thực sự êm ái, sâu lắng. Điều này đã góp phần tăng hiệu quả nghệ thuật cho bài thơ, đưa người đọc đắm mình vào chốn hư hư thực thực.

Trong một bài thơ khác, nhà thơ học tập cách sáng tác thơ văn xuôi của Boudelaire để nói lên nỗi lòng của mình:

Lũ chúng ta:

Mấy kẻ không nhà, tưởng dành bạc đức với nhân tình nên mê tràn tâm sự, có buổi vò nhung xé lụa, chưa mời giăng một tiệc đà nhắc giọng Lưu Linh;

Từng giờ thoát tục, đã quyết vô tâm cùng thể phách thì đốt trọn tinh anh, đòi phen khóc nhạc, cười hoa, chẳng luyến mộng mười năm cũng nổi tình Đỗ Mục.

(Thần tụng)

Rõ ràng, cái tạo nên tính nhạc cho kiểu thơ văn xuôi ở đây là phép đối. Phép đối đã làm cho hai câu thơ song hành tạo âm hưởng. Thơ xuôi làm cho nhịp điệu hùng hồn, đanh thép, góp phần tăng thêm khí phách cho lời thơ.

Ở trong bài Đường vào tình sử, nhà thơ sử dụng nhiều tiết tấu khác nhau khá hiệu quả, đặc biệt là tiết tấu vắt dòng, câu gãy:

Phơi phới thuyền ta vượt bến,

Từ đêm hồng thuỷ ra đi.

Lòng ta dao cắt

Chia đôi

Biên thuỳ,

Dòng máu kinh hoàng chợt tỉnh cơn mê.

Sự thay đổi nhịp điệu đột ngột trong những câu thơ này tạo hiệu quả cho người nghe như chính họ đang cùng nhà thơ ngồi trên con thuyền vượt sóng. Thỉnh thoảng, chính họ cũng nghe thấy sóng lòng trong chính nhà thơ.

Cho dù chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của phương Tây thì âm nhạc dân tộc vẫn chảy trong hồn thơ Đinh Hùng khiến những câu thơ của ông trở nên mượt mà như những bài dân ca, ngâm khúc. Ông đã sử dụng rất hiệu quả thể thơ lục bát và song thất lục bát của dân tộc. Trở lại bài thơ Thần tụng, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó:

Hồn lại đặt cơn mê cơn tỉnh,

Hồn lại bầy đêm quạnh đêm vui.

Hồn xui rượu nói lên lời,

Khói dâng thành ý, nhạc cười ra hoa.

Hồn bắt ai tiêu ma ngày tháng,

Hồn giúp ai quên lãng hình hài.

Hồn từ siêu thoát phàm thai,

Sầu trong tà dục, vui ngoài thiện tâm.

Hồn ở khắp sơn lâm, hồ hải,

Hồn sống trùm hiện tại, tương lai.

Mênh mang một tiếng cười dài,

Hồn lay bốn vách Dạ Đài cho tan.

Có thể thấy, Đinh Hùng chịu sự ảnh hưởng rất rõ từ các nhà thơ tượng trưng Pháp như Boudelaire, Rimbaud…Những biểu tượng, những sự khát khao giao cảm hay những từ nhạc trong thơ ông đều mang dáng dấp của thi pháp thơ tượng trưng Pháp. Bên cạnh đó, những vần thơ của ông còn mang dáng dấp của chủ nghĩa siêu thực. Tuy nhiên, cái làm nên vẻ đẹp của thơ Đinh Hùng là ở cách phối âm của những câu thơ gãy khúc với thể thơ dân tộc là lục bát và song thất lục bát.

Cho đến bây giờ, với nhiều nhà nghiên cứu văn học Việt Nam, Đinh Hùng vẫn là một bức mật mã đầy bí ẩn. Muốn tìm được chiếc chìa khóa cho bức mật mã này thì phải đọc đi đọc lại những tập thơ của ông, nhập tâm cùng ông, thả hồn theo những bài nhạc của ông mới hy vọng có thể thẩm thấu từ từ từng nét từng chữ trong bức mật mã diệu huyền.

Trong cuốn Mặc Khách Sài Gòn, Tô Kiều Ngân kể lại rằng mỗi lần xong việc ở đài phát thanh, Đinh Hùng thường rủ bạn văn nghệ về tụ tập ở một quán rượu đường Lê Lai, gần chỗ ông ở bên cạnh ga xe lửa (nay là công viên 23/9). Ban đêm khu này vắng tanh, có lần say khướt cả, Đinh Hùng cao hứng mở cuộc thi bò ra đường. Vậy là những văn thi sĩ tài danh như Đinh Hùng, Thanh Nam, Quách Đàm, Tô Kiều Ngân, Thái Thủy… cùng ngất ngưỡng thi xem ai bò nhanh, xong rồi nằm lăn ra đường, vừa đọc thơ cho nhau nghe, vừa ngửa mặt lên trời cười với trăng sao. Sau 14 năm gắn bó với chương trình thi văn Tao Đàn, Đinh Hùng từ giã vì căn bệnh ung thư hành hạ.

Ông mất ở bệnh viện Bình Dân lúc 5 giờ sáng ngày 24/8/1967. Lúc đó Tổng trưởng thông tin là một vị tướng quân đội rất yêu thơ, mến tài Đinh Hùng, nên ông đã cho tổ chức đám tang nhà thơ một cách trọng thể, an táng ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Sinh thời, Đinh Hùng có viết thơ rằng:

Khi anh chếƭ các em về đây nhé

Vì chút tình lưu luyến với nhau xưa

Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ

Tay cầm hoa, xõa tóc đứng bên mồ…

Có lẽ chính tác giả cũng không ngờ, mà cũng sẽ không bao giờ có cơ hội được biết rằng thực tế đã xảy ra đúng như trong thơ. Trong đám tang, người ta thấy có 20 thiếu nữ mặc áo trắng, xõa tóc, tay cầm hoa lặng lẽ nhỏ lệ và sắp hàng đi theo linh cữu. Họ đến bên huyệt mộ và thả những bó hoa xuống, ngậm ngùi đưa tiễn người thi sĩ tài hoa lúc đó mới 47 tuổi. Sự việc này diễn ra tự nhiên, không có sự sắp đặt nào cố ý.

Avatar of Chim Én
 | Website

Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội

Leave a Reply