banner wece
Văn học và cái ác

Văn học viết về cái ác

Views: 10

Cái ác trong văn học và có một nhà phê bình viết hẳn một quyển sách về vấn đề này, đó là Georges Bataille với cuốn “Văn học và cái ác”. Vậy là văn học không chỉ có cái thiện, cái đẹp mà còn có cái ác.

Anh em nhà Karamazov

Cái ác đôi khi chiếm một vị trí rất lớn trong văn học, nó song song cùng cái thiện và là một cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ.”Anh em nhà Karamazov” là tác phẩm vĩ đại nhất của văn hào Dostoievsky. Tác phẩm này có một phần rất lớn nói về cái ác và là một trong những nội dung chínhcủa cuốn tiểu thuyết.

Một tấn bi kịch nhuốm màu tội ác trong tác phẩm kì vĩ này. Cha từ bỏ con, tranh cướp người tình với con và cuối cùng bị chính con trai mình giết chết. Một người cha có bốn đứa con trai thì có ba đứa con căm ghét ông ta đến cùng cực. Một người cha trụy lạc, xấu xa, đầy rẫy tội lỗi và những đứa con của ông ta khôngchấp nhận điều đó. Người cha mang tên Fiodor Pavlvitr là một nhân vật gần như quái đản, vô luân, tàn nhẫn, ác độc, và những đứa con của ông ta cũng ảnh hưởng bởi điều đó.Giết cha dường như là kết cục không tránh khỏi.

Anh em nhà Karamazov
Anh em nhà Karamazov

Người con cả Dmitri Fiodorovitr chưa kịp giết cha nhưng ý định trong anh ta đã có từ lâu. Người con thứ Ivan Fiodorovitr không trực tiếp giết cha mình nhưng chính triết lí và suy nghĩ của anh ta thúc đẩy kẻ giết người làm việc đó. Vai trò đao phủ dành cho người con hoang vô thừa nhận Xmerdiacov. Xmerdiacov giết Fiodor Pavlvitr vì anh ta không còn sự lựa chọn nào khác. Người cha quá tàn độc và càng ngày lão càng khủng khiếp. Bi kịch con giết cha có lẽ là tội lỗi thuộc hàng đáng sợ nhất của loài người, cái ác đã bị đẩy lên đến tột đỉnh.

Sóng ở đáy sông – Lê Lựu

Sống ở đáy sông - Lê Lựu
Sống ở đáy sông – Lê Lựu

“Sóng ở đáy sông” không phải là cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của Lê Lựu, nhưng trong tác phẩm này ngoài Núi là nhân vật trung tâm với một dòng đời vô cùng cơ cực, lên thác xuống ghềnh thì ông bố của Núi cũng là một nhân vật rất đáng kể. Ông bố này tự xưng là “cậu” theo kiểu trưởng giả ngày trước và tạo được ấn tượng với người đọc bởi tính cách của ông ta. Đó là một ông bố độc ác, tàn nhẫn với những đứa con đẻ của mình. Một kẻ ích kỉ với những lí lẽ cứng nhắc giáo điều đến ngu xuẩn. Ông bố đặc biệt căm ghét đứa con trai tên là Núi chỉ vì một lần anh ta đã nói dối do đói khổ quá.Tiểu thuyết Sóng ở đáy sông kể về một chuỗi những sai lầm liên tiếp của một cuộc đời: Núi – người được sinh ra bởi sai lầm của người cha, sau những lần “không thể kìm hãm trước con ở” “đang thời bừng dậy rừng rực”. Núi là một số phận không mong muốn. Một khoảng cách không thể kết nối lại gần với những gì được gọi là chính thống, được sự thừa nhận hợp pháp.Cuộc đời Núi trượt dài trong tăm tối. Bất hạnh đeo đẳng. Chiến tranh và một thời kỳ bao cấp có thể khiến con người ta trở nên vĩ đại hoặc thấp hèn…Ông bố đã từ chối chu cấp cho Núi, đuổi Núi ra khỏi nhà trong một đêm mưa gió,cự tuyệt mọi sự giúp đỡ cho đứa con trai của mình khi nó rơi vào cảnh cùng đường và ở mức cực điểm, ông ta đã viết đơn xin cho đứa con đẻ bị tù chung thân dù tội của anh ta chưa đến mức phải thế.

Nếu tôi không nhớ nhầm thì trong văn học Việt Nam chưa từng có một ông bố nào độc ác và tàn nhẫn hơn thế. Nếu như “Sóng ở đáy sông” không tồn tại nhân vật ác cỡ đó, cuốn tiểu thuyết của Lê Lựu sẽ nhạt đi rất nhiều. Dù ở đoạn cuối cuốn tiểu thuyết, nhà văn đã không làm được một cái kết xứng đáng với sự ác độc của nhân vật ông bố nói trên. Tác giả có phần “nương nhẹ” với nhân vật và chính điều đó đã giảm sức nặng đáng kể với tác phẩm. Những tác phẩm viết về cuộc diệt chủng của phát xít khiến người ta rùng mình ớn sợ. Những người phải vào các trại tập trung của Đức quốc xã, sống sót trở về và chỉ cần kể lại trung thực những gì diễn ra đã gây một ấn tượng mạnh.

Cái ác luôn đáng sợ

Cái ác luôn tạo ra một bầu không khí sợ hãi và đầy ám ảnh. Những người Do Thái bị tước mọi quyền cá nhân, bị bỏ đói, bị lao động khổ sai cực nhọc, bị ném vào các lò thiêu như mớ giẻ rách khiến người ta kinh sợ. Cả một vệt văn học viết về tội ác của loài người như “Có được là người” của Primo Levi, “Không số phận” của Kertész Imre, “Nhật kí Anne Frank” của Anne Frank, “Đêm” của Elis Wiesel…Rất nhiều cuốn sách trong series này đã được coi là kiệt tác văn chương của nhân loại và được tôn vinh một cách xứng đáng.

Kertész Imre được giải Nobel Văn học, Elis Wiesel được Nobel Hoà bình…Một câu hỏi đặt ra là tại sao người ta lại viết về cái ác và có lúc cái ác đã trở thành một phần rất quan trọng trong nhiều tác phẩm? Có phải vì loài người luôn ca ngợi cái chân thiện mỹ và nhà văn cũng hết lòng phụng sự cho điều đó? Ai cũng biết cái ác luôn song hành cùng cái thiện, thậm chí nó được sinh ra đồng thời, triết học phương Đông đã từng có hai mệnh đề đối lập về thiện – ác từ rất sớm.

Mạnh Tử cho rằng “Nhân chi sơ tính bản thiện” thì Tuân Tử đáp lại rằng “Nhân tri sơ tính bản ác”. Hai mệnh đề này đối lập nhau và không phải không có cái lí của nó. Cuộc đấu tranh thiện ác chưa bao giờ ngừng nghỉ và các nhà văn cũng không thể chống lại các quy luật ấy. Người viết miêu tả và tường thuật lại cái ác vì nó là một phần của cuộc sống và hiện hữu. Người ta nhìn thấy cái ác ở khắp mọi nơi: chiến tranh, bạo lực gia đình, giết người… Không ai muốn cái ác nhưng nó vẫn tồn tại và phát triển cùng với xã hội loài người. Văn học về cái ác luôn gây một ấn tượng mạnh mẽ với người đọc. Tôi cho rằng nhà văn chẳng hề thích thú khi mô tả cái ác và sự tàn bạo của nó, nhưng có lẽ trong sâu thẳm ta phải công nhận rằng loài người vẫn có những hứng thú về cái ác. Các tiểu thuyết trinh thám đầy rẫy cái ác và luôn là dòng văn học bán chạy nhất. Nước Pháp, một cường quốc về văn học thì người dân ở đây cũng ưa chuộng nhất những tiểu thuyết trinh thám – kiểu tiểu thuyết luôn chắc chắn tồn tại một loại tội ác nào đó.

>> Đọc thêm : Lương thiện là một sự lựa chọn

Con người luôn tò mò về cái ác

Và người đọc nín thở hồi hộp theo dõi hành trình, nút thắt nút mở của nó.Nói có vẻ mâu thuẫn, con người khiếp sợ cái ác nhưng lại tò mò với chúng. Cái ác tạo nên những ấn tượng mạnh mẽ và câu hỏi đặt ra, văn học cần cái ác làm gì. Như một mặc định, sứ mệnh của văn học là hướng thiện, dù có những tác phẩm đẩy xuống tột cùng của nỗi đau, chết chóc hay thống khổ thì sau đó và trong đó luôn chứa đựng thông điệp tốt đẹp. Khi nghĩ đến cái ác, chúng ta nghĩ đến những việc làm, hành vi gây tổn hại lợi ích người khác nhằm thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của bảnthân mình.

Tác phẩm Sau nửa đêm của Haruki Murakami tuy ít được nhắc đến trong số những tác phẩm của ông nhưng lại là tác phẩm mô tả trọn vẹn sự ám ảnh tư bản của Nhật Bản trong ông. Chỉ có thông qua tác phẩm, cảm giác trống rỗng về linh hồn của những con người và những tác động tiêu cực của tâm lý mới như được giải tỏa. Điều đó phản ánh một giai đoạn “khó ở” ở Nhật Bản, sức ép của cuộc sống tư bản hiện đại đã tạo vách ngăn giữa con người với nhau và sự chịu đựng đã đến ngưỡng cần phải thét lên. Và, Haruki Murakami đã chọn viết nó ra như một sự giải phóng tinh thần.Ông đã mô tả chi tiết cách kẻ sát nhân cảm thấy thỏa mãn như thế nào khi cho lưỡi dao rạch từ từ trên cơ thể con người, khi nhìn thấy dòng máu từ từ tuôn chảy trong sự gào thét vô vọng của nạn nhân. Sự đủng đỉnh với những lý giải của tên sát nhân về việc hắn bắt buộc phải ra tay có vẻ như là sự biện minh, dung túng cho một tâm hồn cô độc khao khát được nghe thấy sự tồn tại của hắn trên cõi đời này.

Chúng ta cũng thấy rất nhiều điều đằng sau câu chuyện của các tác phẩm. Bối cảnh ra đời của tác phẩm cũng như những tác động sâu sắc của xã hội, những ám ảnh day dứt trong tâm tưởng tác gia và đến một thời điểm nào đó nó cần bùng phát. Mặt khác,chúng ta cũng thấy rằng những tội nhân thường cũng chính là hệ lụy, là nạn nhân của gia đình và xã hội. Như trong các tác phẩm ta thấy, chỉ cần một lần “biến”, các nhân vật đã nổi trôi giữa dòng đời “vạn biến” và bị nhấn chìm trong vòng xoáy cuộcđời. Vậy nên cái ác trong văn học là một sự cảnh tỉnh trước khi chúng ta trở thành nạn nhân của “dòng đời vạn biến”. Trước hết phải khẳng định rằng những tác phẩm như “Đồi gió hú”, “Anh em nhàKaramazov”, “Có được làm người”… là những kiệt tác của văn học và chủ đề chính trong những tác phẩm đó là bạo lực, sự tàn ác của con người. Có nghĩa viết về cái ác vẫn có những tác phẩm rất lớn. Cái ác được phơi bày ở đủ mọi góc cạnh, nhà văn miêu tả cái ác tỉ mỉ, có lúc trần trụi để con người khiếp sợ với nó và cảnh báovề những hoàn cảnh tương tự có thể xảy ra.

Tội ác và hình phạt
Tội ác và hình phạt

Yêu thương bằng hận thù như Heathcliff sẽ chẳng có kết cục tốt đẹp gì. Phóng đãng, đồi trụy mất hết tình cha con như Fiodor Pavlvitr rồi cũng phải chịu một cái chết bi thảm, hoặc anh chàng Raskolnikov trong “Tội ác và hình phạt” cũng của Dostoivesky, giết người và đâu được yên thân: sống trong một nỗi sợ hãi và giày vò khủng khiếp…Nhà văn đưa ra cái ác và những biểu tượng của nó để thấy rằng cái ác dù có dữ tợn và khủng khiếp thế nào nó cũng chẳng thể trường tồn, nhất định nó sẽ bị trả giá bằng một cái giá rất đắt.Văn học luôn có tính đa dạng, cái thiện, cái đẹp đương nhiên là một dòng chủ đạo lớn và được quan tâm nhất nhưng sự tha hoá của con người, những mâu thuẫn không thể hoá giải cùng với chiến tranh đôi khi là những trường hợp bất khả kháng. Xã hội luôn có cái ác lộ diện và tiểm ẩn.

Chí Phèo - Nam Cao
Chí Phèo – Nam Cao

Văn học khai thác mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người, trong đó có cái ác.Thậm chí một nhà nghiên cứu văn học đã nói rằng, bản ngã của con người trong những tác phẩm liên quan đến cái ác còn mạnh mẽ và ấn tượng hơn những tác phẩm mang tính thiện mĩ. Điều này không phải không có cơ sở vì khi con người bị đẩy đến mức tha hoá tận cùng hoặc mâu thuẫn ở mức cao nhất – cơ sở để nảy sinh cái ác- thì bản ngã trong mỗi con người sẽ được thể hiện rõ rệt và mạnh mẽ nhất. Để một nhân vật ác được kết thúc một cách nhẹ nhàng, nhà văn đã duy lí chủ nghĩa nhân văn và làm giảm chiều kích của tác phẩm. Ta chỉ cần so sánh trong trường hợp này, nếu Nam Cao không cho Chí Phèo đâm chết Bá Kiến ở cuối truyện, giá trị của “Chí Phèo” sẽ giảm đi rất nhiều. Văn học được sinh ra không phải để tôn vinh cái ác. Nhà văn viết về cái ác để người ta có thể hiểu tường tận, tránh xa hoặc đề phòng các nguy cơ từ nó. Văn học viết về cái ác chính là để đấu tranh với nó, đưa nó ra ánh sáng và kéo người ta đến cái thiện.Viết về cái ác để rèn luyện con người đi trên con đường chông gai hướng đến cái thiện.

Tại sao văn học lại viết về cái ác ?

Tại nước Pháp – trung tâm văn hóa của Châu Âu, người dân vô cùng ưa chuộng dòng văn học trinh thám. Khắp nơi ở châu Âu, người ta cũng giành mua và đọc sách của những cây bút trinh thám đại tài như Fred Vargas, Dominique Manotti, Olivier Truc,Caryl Férey, DOA… Tại sao không phải là dòng văn học lãng mạn, ủy mị hay nghệ thuật viết về cái đẹp dung dị, mỏng manh của cuộc sống mà là dòng văn học viết về những tội ác dị tởm, những tên sát nhân khát máu? Cớ gì con người đưa mình vào thế giới giả tưởng của cái ác nơi con chữ nghệ thuật trong khi ta khiếp đảm và ám ảnh với nó ở đời sống?

“Văn học là nhân học” (M. Gorki), bên trong con người không chỉ có hạt giống của tính thiện “nhân chi sơ tính bản thiện” (Khổng Tử) mà còn có mầm mống của cái ác“nhân chi sơ tính bổn ác” (Tuân Tử). Cái ác luôn lộ diện nhưng đồng thời cũng thâm tàng bất lộ, thậm chí ẩn tàng trong cả cái thiện mà nếu nhà văn bỏ qua sự phản chiếu ấy, chỉ miêu tả, tường thuật cái đẹp, cái thiện thì chẳng khác nào đẩy con người vào những ảo ảnh, mụ mị, huyễn tưởng lãng mạn trữ tình. Bởi vậy, nghệ thuật muốn phản ánh cuộc sống và con người một cách toàn diện thì cái ác là một phạm trù không thể thiếu.

Con người bao giờ cũng là “hiển minh của sự lưỡng lự” (Milan Kundera), luôn trong trạng thái lưỡng phân, bên thiện bên ác, bên cao cả bên thấp hèn, bên trong sáng bên đê tiện. Bên trong con người tự nhiên vốn đã sẵn có mầm mống của cái ác mà theo Nguyễn Huy Thiệp chính “đời sống tinh thần tăm tối cùng với hoàn cảnh quẫn bách vật chất” sẽ gieo trồng và nuôi dưỡng hạt giống ấy. Tuy nhiên, dường như chúng ta- những con người xã hội hiện đại đã vô tình thu hẹp kẻ ác, đơn giản hóa kẻ ác bất chấp sự xung đột giữa hiện tượng – bản chất, hành vi – mục đích và sự phức tạp bên trong thế giới tinh thần của họ bởi vốn dĩ kết quả của hành động thì dễ dàng hiển hiện trước mắt ta nhưng quá trình đi đến những hành vi bất nhân ấy thì cần thời gian hiểu rõ ngọn ngành. Phải có một tác nhân và kích thích từ ngoại cảnh thì phần “bổn ác” bên trong con người mới xâm lấn cả “bản thiện” để rồi “trở ác”. Phải vì đảo hoang khắc nghiệt, vì sinh tồn, vì miếng ăn nên những đứa trẻ trong sáng, ngây thơ,mỏng manh trong “Chúa ruồi” của William Golding mới phải “tiến hóa” trở thành những tay săn ham mê chém giết, uống máu người, ăn thịt đồng loại.

Chúa ruồi
Chúa ruồi

Phải vì cỗ máy xay thịt người là chiến tranh nên trong “Nỗi buồn chiến tranh” (Lê Bảo Ninh), người lính mới xem việc bắn giết là thường tình, sự phi nhân tính này đáng sợ tới nỗi cái chết trong mắt Can không phải điều gì quá ghê gớm “tôi không sợ chết nhưng cứbắn giết mãi thế này thì chết hoại tình người”. Có những tình thế tiến thoái lưỡng nan mà người ta đôi khi phải làm điều ác để sinh tồn. Khi ấy, văn học viết về cái ác để cho ta cái nhìn toàn diện về hành trình từ sự bất lực trước hoàn cảnh đến sự méomó của nhân tính, tính người; để ta hiểu cớ sự nào phần thiện bên trong con ngườibiến chất, bị cái ác đồng hóa.Tuy nhiên, hiểm cảnh có luôn là cái cớ hợp lý để bao biện cho sự sa đọa của nhân cách? Có phải kẻ ác nào cũng đáng được cảm thông? Hoàn cảnh có thể chi phối và thử thách ta nhưng suy cho cùng, nhân tố quyết định và đưa ra lựa chọn giữa vô vàn những lựa chọn khác vẫn luôn là con người. Đọc Chí Phèo, ta biết dù hoàn cảnh có chèn ép ta đến đâu thì ta vẫn phải kiên trì và vững vàng với thiên lương của mình bởi như Nguyễn Khải trong “mùa lạc” đã từng nói rằng cuộc đời này làm gì có có con đường cùng, chỉ có những ranh giới (ranh giới thiện – ác là một trong số đó) mà điều cốt yếu là con người phải có sức mạnh ý chí, tinh thần để vượt qua những ranh giới ấy. Một khi đã lấn sang ranh giới của cái ác thì rất khó có thể quay về phần thiện lành nguyên sơ ban đầu bởi cuộc sống vận hành theo quy luật nhân – quả, “ác giả ”ắt sẽ “ác báo”.

Nam Cao dù nhân đạo đến mấy cũng không thể phớt lờ tính logic của quy luật ấy. Vậy nên cuối cùng, dù Chí có bừng tỉnh khỏi sự mê muội để hoàn lương thì mọi sự cũng đã muộn màng, xã hội cự tuyệt hoàn toàn quyền làm người của Chí và cũng chính Chí đã tự cự tuyệt quyền làm người của mình. Văn học giúp ta đồng cảm với kẻ “xấu” nhưng không đồng nghĩa khiến ta đồng tình với lựa chọn hành vi của họ, cổ súy và bênh vực họ mù quáng bởi lẽ cái ác trong văn học bao giờ cũng phải trả một cái giá đắt tương xứng dù cho nó có bạo tợn, khủng khiếp và thống trị thế giới như thế nào đi chăng nữa.

Văn học viết về cái ác là để con người hướng thiện

Văn học nói cho ta một quy luật “Cuộc sống như một dòng sông, có cả sự trong veo tinh khiết đến ngỡ ngàng của nước, có cả rác rưởi đang trôi” (Nguyễn Huy Thiệp) mà trách nhiệm của nhà văn là gạn đục khơi trong, gạt bỏ tạp chất để chắt lọc những tinh chất, hạt bụi quý nhằm cải tạo hiện thực, thanh lọc tâm hồn người hướng đếngiá trị chân – thiện – mỹ. Vì vậy, văn học viết về cái ác là để con người hướng thiện, con người tìm đến cái ác trong văn chương là để đào sâu, khám phá để tự nhận thức,tự giáo dục mình. Nhà văn không chỉ ca ngợi, tôn vinh cái đẹp, cái tốt, ngợi ca con người và xã hội tốt đẹp mà còn phải nhận biết cái ác, chỉ ra cái ác, dự báo sức hủy diệt của cái ác vớicon người và xã hội.

Nhà văn Diêm Liên Khoa nói rằng: “Nếu văn học chỉ quan tâm đến tính thiện và tình yêu thì đơn giản và nông cạn. Cái vĩ đại của văn học là quan tâm đến bóng tố ivà cái ác. Bởi khi ta quan tâm đến cái ác thì ta mới thấy được cái thiện. Và khi ta quan tâm đến bóng tối thì mới thấy được ánh sáng”.

Ở Việt Nam, nhà văn Nguyễn Minh Châu rất tinh tế phát hiện ra cái ác ẩn nấp kín đáo trong cái đẹp huyền diệu. Sau cái “…bức tranh mực Tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút hồng hồng do mặt trời soi vào” và hiện ra một “Chiếc thuyền ngoài xa”.Đẹp! Thật đẹp! Nhưng mấy ai biết khi chiếc thuyền cập bến, là cận cảnh người chồng đánh người vợ bằng chiếc thắt lưng một cách dã man. Nghiến răng ken két, đánh và chửi rủa: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết đi cho ông nhờ”. Vậy là đằng sau cái đẹp huyền diệu của thiên nhiên, là cái ác ẩn náu và xuất hiện bất cứ lúc nào. Nguyễn Minh Châu đã khiến người đọc căm phẫn gã chồng vũ phu, người đọc thương người vợ, nếu ở đó là nhảy vào can ngăn, hoặc giáng một quả đấm vào mặt gã chồng, cứu người đàn bà yếu đuối. Nguyễn Minh Châu tìm ra nguyên nhân của những trận đòn roi là: Đói khổ quá. Khổ quá là lôi vợ ra đánh. Là bế tắc, tuyệt vọng không biết thế nào để thoát ra. Vì luẩn quẩn trong vòng đói khổ, không giải tỏa, giải thoát được là… đánh vợ. Là con người tăm tối, u mê cả đời trên biển cả, xa cách xã hội người đến mức không còn biết làm người. Vì thế không biết yêu thương, mà chỉ biết hành hạ, đọa đày người thân.

Nhà văn đã biết nhìn sâu vào góc khuất con người,và qua hình tượng nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu mong muốn một đời sống vật chất no đủ cùng một đời sống tinh thần cao đẹp. Ông Nguyễn Huy Thiệp là người viết nhiều về cái ác. Trong truyện ngắn “Sang sông”, ông viết: “Bản chất đời sống con người có sự ác”. Truyện ngắn “Tướng về hưu” có nhân vật là cô con dâu ông tướng làm việc ở bệnh viện phụ sản, công việc hàng ngày là nạo phá thai. Nhau thai nhi bỏ đi được cho vào phích đá mang về nhà nấu cho chó, cho lợn ăn. Ông tướng dắt con trai xuống bếp “chỉ vào nồi cám, trong đó có các mẩu thai nhi bé xíu”. Sau khi ông tướng giận dỗi bỏ đi nằm, cô con dâu lạnh lùng chất vấn người ở: “Sao không cho vào máy xát?”. Đọc mà gai cả người,lạnh cả gáy.Viết văn chống cái ác như thế nào? Câu hỏi này thực quá khó. Trong một cuộc hội thảo, nhà lý luận phê bình Lê Thành Nghị đã đặt ra vấn đề này: “Chúng ta đều biết khi con người trở nên vô cảm với cái ác, nghĩa là cái ác đang thắng thế, xã hội trở nên bất trắc và sự sống trở nên vô nghĩa đối với tất cả. Tiểu thuyết đang làm gì trong trạng thái tinh thần mang tính đối kháng quyết liệt đó? Nhà văn đang đứng ở đâu trong thời điểm đang rất cần có tiếng nói của lương tâm và lương tri này?”.

Thời nào, xã hội nào cũng có cái ác cái xấu, chúng có sức sống vô cùng mãnh liệt không dễ diệt trừ, nhà văn dùng ngòi bút chống cái ác lại càng khó. Cho nên cuộc sống đòi hỏi phẩm chất nhà văn, bản lĩnh nhà văn chân chính khi đối mặt với cái ác.Ngòi bút nhà văn phải đứng dưới ánh sáng công lý bảo vệ những người lương thiện chịu bất công, chống lại cái xấu, cái ác không mệt mỏi. Nhà văn dùng ngôn từ miêu tả âm mưu hiểm độc, thủ đoạn tinh vi, mánh khóe lắt léo của tội phạm để người đọc nhận chân cái ác cái xấu, để đề phòng, để như một bài học sống cảnh giác, phòng vệ. Nhà văn khi xây dựng nhân vật ác, xấu không nên miêu tả, tỉ mỉ, chi ly hành vi bạo lực của tội phạm. Không nên miêu tả cảnh giết người với quá nhiều tình tiết giật gân, câu khách, một cách phản cảm. Nhà văn viết tác phẩm về cái ác cũng như bác sĩ kê toa chữa bệnh. Nhà văn phải dùng loại “kháng sinh” nào để cản trở, ngăn chặn cái ác xuất hiện; dùng loại “thuốc bổ” nâng đỡ cơ thể nào, liệu pháp tâm lý nào để hướng con người đến giá trị nhân văn, đến tinh thần lạc quan, bản lĩnh vững vàng để thanh lọc cái ác đang ẩn chứa trong tâm hồn.Cho nên nhà văn đừng quay lưng với cái ác! Văn học là hình thức thể hiện rõ nét nhất của cái ác.

Trong lời nói đầu của cuốn sách, Bataille nhận định: “Những nghiên cứu này đáp ứng nỗ lực tôi đã bỏ ra đi tìm ý nghĩa của văn học, là cái chủ yếu hoặc không là gì cả. Văn học là cái thể hiện rõ nét của cái ác, cái ác theo tôi nghĩ có một giá trị tối thượng, nhưng quan điểm này không đòi hỏi sự vắng thiếu đạo đức, yêu cầu một siêu đạo đức”.

Nhà phê bình văn học Trần Ngọc Hiếu bày tỏ quan điểm: “Những cái đẹp kỳ vĩ trên thế giới này nó đều có những thành tố cái ác ở trong đó, ví dụ: chúng ta hãy nhìn kim tự tháp, rất hùng vĩ nhưng nó cũng là biểu tượng của cái ác, có hàng nghìn người đã chết trong quá trình xây dựng nó” .Văn học là hình thức thể hiện rõ nét nhất của cái ác và thậm chí cái ác có giá trị tối thượng, đặc trưng của văn học được cấu thành bởi một ngịch lý đó là: Một mặt văn học hướng đến tự do nhưng mặt khác văn học đúng như Georges Bataile nói nó là giao tiếp. Trên phương diện là tự do tại sao văn học lại gắn liền với cái ác?

Một nhà thơ Việt Nam và một nhà thơ Mỹ gốc Việt Đinh Linh có cùng quan điểm: “Có lẽ từ nguyên thủy nhất của nhân loại là từ “Đừng”, xã hội về cơ bản vận hành trên nguyên tắc của từ “đừng” – biểu hiện của sự cấm đoán”.“Theo tôi văn học đứng ở cái cực bên kia của các thiết chế xã hội. Các thiết chế xã hội có lẽ song hành với cái thiện bởi vì nó làm cho chúng ta có cảm giác sự an toàn, cân bằng. Nhưng tự do lại xuất phát từ nhu cầu con người muốn mạo hiểm. Tự do là thứ mà con người ta phải trả giá bằng mạo hiểm” – Tiến sĩ Hiếu chia sẻ .

Georges Bataille

Georges Bataille
Georges Bataille

Georges Bataille là tiểu thuyết gia, nhà triết học, nhà tiểu luận, nhà thơ, nhà phê bình Pháp. Cuối những năm 1950, ông được coi là một trong những nhân vật quy định nền văn minh châu Âu hiện đai. Triết gia Martin Heidegger từng gọi ông là “bộ óc tư duy xuất sắc của nước Pháp”. Murakami và một lời giải thích cho tâm thức cái ác của Nhật Bản hiện đại “Hôm đó là Thứ hai, ngày 20-3-1995, một sáng xuân tươi đẹp quang đãng… Hôm trước là Chủ nhật, hôm sau là Xuân phân, một ngày quốc lễ. Kẹp giữa cái mà lẽ ra phải là một kỳ nghỉ cuối tuần dài, bạn có thể đang nghĩ, “Mình ước gì không phải đi làm hôm nay”. Không may mắn như thế đâu… Bạn lên tàu, đông như vốn dĩ. Không có gì khác thường… Cho tới khi một người cải trang thọc đầu nhọn của chiếc dù lên sàn toa, chọc thủng vài túi chất dẻo chứa thứ chất lỏng lạ…” – đó là những dòng Murakami đã viết trong cuốn sách điều tra – phi hư cấu mang tên “Ngầm”, về một trong những sự kiện ám ảnh nhất của nước Nhật hiện đại, khi các thành viên giáo phái ngày tận thế Aum Shinrikyo đã đầu độc những người dân thường bằng khí độc sarin khiến hàng ngàn người bị thương.

Haruki Murakami và cái ác

Con cừu với dấu sao bí ẩn trong “Cuộc săn cừu hoang”. Một nước Nhật thịnh vượng và giàu có, một trong những đất nước an toàn nhất thế giới nếu bỏ qua những thảm họa tự nhiên mà chỉ tính đến nạn tội phạm, thế rồi giữa đất nước ấy, một vài kẻ điên rồ nào đó không biết từ đâu xuất hiện, phá tan sự an ổn chỉ bằng một vài chiếc túi độc, hay mới đây, một phát súng vào ngực vị chính trị gia lỗi lạc bậc nhất – dù ông đã từ bỏ chính trường.Cái ác của nước Nhật đến từ đâu?

Cuộc săn cừu hoang - Haruki Murakami
Cuộc săn cừu hoang – Haruki Murakami

Tại sao sự phát triển và giàu có cũng không khiến cho con người bớt cuồng loạn và cực đoan? Thứ gì đang ngầm ẩn bên dưới những đô thị hiện đại ấy, khiến một số kẻ không thôi bị ám ảnh bởi máu? Năm 1981, Haruki Murakami lúc này mới bắt đầu viết văn toàn thời gian và cuốn sách đầu tiên ra đời trong thời kỳ này là “Cuộc săn cừu hoang”, câu chuyện về một người đàn ông thành thị với cuộc sống tẻ nhạt, không có gì đặc biệt, bất chợt vì một tấm bưu thiếp hình một đàn cừu mà vướng vào cuộc phiêu lưu đi tìm con cừu có hình sao trên lưng, theo yêu cầu của tay áo đen độc ác, trợ lý của Ông Chủ bí hiểm. Con cừu hóa ra là một kiểu ý niệm được hữu hình hóa, với “một kế hoạch vĩ đại nhằm thay đổi nhân tính và thế giới loài người”. Nó nhập vào con người, lợi dụng họ, khi đã xong việc, nó sẽ rời bỏ cái xác rỗng ấy và lại kiếm tìm một kẻ khác. Nó lấy đi mọi thứ, ý thức, giá trị, tình cảm, nỗi đau, nó đẹp đẽ khiến ta phát cuồng nhưng xấu xa đến mức làm ta sởn tóc gáy. Khi ấy, Murakami không đưa ra một định nghĩa cụ thể nào mà chỉ mô tả thật mơ hồ con cừu độc nhất vô nhị này nhưng ta cảm nhận được nó liên quan đến một cái ác cao cấp, một tâm thức có tổ chức chiếm lĩnh và điều khiển con người trong sự tàn nhẫn vô biên của nó. Trong một đoạn lướt qua,nhà văn đã mô tả ngôi làng nơi con cừu đang trú ngụ đã từng là nơi nhận trợ cấp chính phủ để nuôi cừu làm áo len cho những người lính đi gây chiến tại Trung Quốc.Nói cách khác, con cừu hiền lành, con cừu ngây thơ là hình bóng của hệ thống cái ác ngầm.

Thế nhưng, phải nhiều năm sau, khi đã rời khỏi Nhật Bản và tạm sống ở Mỹ, khi đã có một khoảng cách nhất định với quê hương, Murakami mới thực sự “ngắm nghía” tâm thức về cái ác của nước Nhật. Bất cứ ai nói rằng ông là một nhà văn đã ly cách khỏi những gì làm nên một người Nhật thực thụ, coi thường ông như một nhà văn Nhật ăn mì spaghetti và gà rán KFC sẽ phải nghĩ lại khi họ đọc “Biên niên ký chim vặn dây cót”, có lẽ là cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của ông. Có thể trong văn chương ông không có hoa anh đào, không có geisha, không có mono aware, nhưng Murakami vẫn đi tới cùng để hiểu tại sao cái ác không buông tha người Nhật. Cái ác mà ông khảo cứu không phải kiểu cái ác sinh ra từ cái đẹp như trong “Bức bìnhphong địa ngục” của Akutagawa, “Đẹp và buồn” của Kawabata hay “Kim các tự”của Yukio Mishima. Đó là một cái ác không chút nên thơ, không liên quan gì tới nghệ thuật mà là cái ác thuần túy nhất.

Biên niên ký chim vặn dây cót
Biên niên ký chim vặn dây cót

Trong hơn 100 trang của “Biên niên ký chim vặn dây cót”, Murakami đã tưởng tượng về cuộc chiến tại Nội Mông với những trường đoạn thảm sát khiếp đảm. Chính những dư âm từ cuộc giết chóc người Trung Quốc của binh lính Nhật là thứ mà nhân vật chính, anh chàng Toru Okada đang sống một đời tưởng rất bình thường trong một đô thị Nhật Bản, phải vượt qua trước khi kết nối lại được với chính mình. Hành trình đi tìm con mèo, rồi đi tìm người vợ mất tích của một người đàn ông trung niên thất nghiệp chấp chới vô phương trong cuộc sống, cuối cùng trở thành hành trình lần lại những ảnh tượng nguyên thủy, những di sản tâm linh từ lịch sử dự phần trong trí óc anh ta, trở thành bóng ma cái ác bám dính lấy anh ta, dù anh ta là một kẻ chẳng liên quan và đã sống sau những sự kiện hàng chục năm.

>> Đọc thêm : yếu tố hậu hiện đại trong biên niên ký chim vặn dây cót

Nói như Jay Rubin, dịch giả quan trọng của Murakami: “Thứ lao vào nhân vật kể chuyện từ sâu thẳm ký ức cá nhân của anh ta chính là quá khứ cận đại đen tối và bạo lực của Nhật Bản. “Nó đều ở tất cả trong tôi: Trân Châu Cảng, Nội Mông, bất cứ cái gì”, Murakami nói về mình như thế”.Có gì đó bị trống rỗng và khuyết thiếu bên trong một vài người Nhật, khiến họ tìm đến giá trị của cái ác để được lấp đầy, khiến họ mở cửa tâm trí cho phép “con cừu”nương trú để nhận được cảm giác đầy đủ về quyền lực, về ý chí, về sức ảnh hưởng,dù chỉ là sự đầy đủ giả tạo. Những thành viên của tà giáo đã tấn công thường dân Nhật Bản vào năm 1995, trong cuộc phỏng vấn riêng với Murakami, đã thừa nhận với ông rằng: “Những người lớn khôn trong các gia đình hạnh phúc thì chắc sẽ không gia nhập giáo phái Aum đâu”. Họ đã ký thác cái tôi của mình cho một thứ lớn hơn và đó là con đường ngắn nhất dẫn ta đến một cái ác vô song ta không thể nào kiểm soát.

Một trong những chương sách hay nhất mà Haruki Murakami từng viết ra nằm trong tiểu thuyết “Kafka bên bờ biển”, kể về cuộc gặp gỡ siêu thực giữa một ông già chậm phát triển trí tuệ nhưng biết nói chuyện với mèo và một người đàn ông bí ẩn tự nhận là Johnny Walker, kẻ bắt cóc những con mèo rồi lấy đầu của chúng. Johnny Walker đưa ra một yêu cầu thật điên rồ, rằng ông già phải giết mình, bằng không, y sẽ giết từng con mèo ông quen trước mặt ông. Ông già khăng khăng mình chưa từng giết ai và cũng không có ý định ấy, nhưng Johnny Walker thuyết phục:“Chẳng ai bận tâm ta có muốn giết người hay không. Mà chỉ là một việc ta phải làm. Còn không chính ta sẽ là người bị giết. Đoàng! Lịch sử con người bản chất chỉ có thế thôi”.

Nói rồi, hắn lôi từng con mèo trong bao tải ra, xé chúng làm đôi và ăn trái tim chúng. Chẳng còn cách nào khác để ngăn lại, ông già hiền lành và ngu ngơ buộc phải đâm chết kẻ kỳ quái kia. Một chương sách hài hước mà cũng thật khủng khiếp về sự mời gọi không thể tránh khỏi của cái ác. Khi nghi phạm ám sát cựu Thủ tướng Shinzo Abe khai rằng y đã giết ông vì ôm mối hận với một giáo phái mà y cho rằng có liên hệ với ông, vì giáo phái ấy đã tẩy não mẹ y và khiến gia đình y tan nát, tôi chợt nghĩ đến chương truyện này của nhà văn nổi tiếng nhất Nhật Bản hiện tại. Tất nhiên, nghi phạm kia không phải ông già ngốc Nakata, vị cựu Thủ tướng Nhật Bản cũng chẳng phải người giết những chú mèo hay bất cứ sinh vật vô tội đáng thương nào, thực tế cũng không phải tiểu thuyết, không gì biện giải được cho tội ác vô nghĩa của hung thủ, nhưng như Murakami vẫn nói,chia phe “địch” và phe “ta” thì dễ quá, cái ông muốn biết là “chúng ta có từng trao phó phần nào con người mình cho một hệ thống hay trật tự to lớn hơn? Và nếu như thế, có một lúc nào hệ thống kia đòi hỏi chúng ta một vài kiểu “loạn trí” hay không?

Có phải câu chuyện mà giờ đây ta sở hữu thật sự và đích thị của ta nữa hay không?Các giấc mơ của ta có thật sự là giấc mơ của chính ta không?”.Cái ác không phải một tế bào đơn lẻ sống riêng trong mỗi cá nhân, cái ác của người này luôn có sự “thần giao cách cảm” với cái ác của kẻ khác, cái ác này khơi lên cái ác kia như những quân domino, cái ác của một giáo phái không chỉ giật dây cái ác của những kẻ thuộc về giáo phái mà còn giật dây cái ác của một kẻ căm thù giáo phái, cái ác có khả năng đồng hóa tất cả chúng ta, đun sôi chúng ta trong một nồi nước dùng, dù mềm như nấm hay cứng như cua cũng bị luộc chín trong cái ác, cho nên trừng phạt kẻ thủ ác thì dễ rồi, nhưng ta phải làm gì với đường dây cái ác lắt léo như thế?

Khi văn chương Việt đối mặt cái ác.

Cho dù kông phải quá ít dữ liệu để quan sát và suy ngẫm, nhưng giới cầm bút ở Việt Nam đương đại dường như vẫn giữ khoảng cách đến mức ngập ngừng, bỏ ngỏ trước cái ác. Có thể đó là một chủ đề khó đòi hỏi tài năng lớn nhưng cũng có thể vì, thật sự, nó cần đến một không gian đủ thấu hiểu để xuất hiện, tiếp nhận.Tuy vậy, nếu chừng nào văn chương chưa dấn sâu vào cái ác như nhu cầu sáng tạo đích đáng, thì có lẽ, chừng đó, văn đàn vẫn còn khuyết thiếu một tri nhận nhân tính.

Trong sáng tác cũng như tiểu luận, Nguyễn Huy Thiệp nhiều lần nỗ lực thức nhận về cái ác. Theo ông, “bản chất đời sống con người có sự ác” (Sang sông), và vì thế, ông tỏ ra “khó chịu với những câu thơ đầu môi chót lưỡi về lòng nhân từ bản năng, tính thiện bản năng hoặc là trò ngâm ngợi thứ lòng tốt nhỏ kiểu từ thiện xã hội” (Con đường của các nhà thơ).Trong truyện ngắn được đặt theo tên một tiểu thuyết lớn của  F. Dostoiveski, Tội ác và trừng phạt, Nguyễn Huy Thiệp chỉ ra nguyên nhân gây tội ác nằm ở “sự mông muội tinh thần”, bao gồm cả “khát vọng về miếng ăn và nhà ở”.

Nhưng không phải nhà văn nào cũng đủ bản lĩnh để viết về cái ác. Trong những ghi chép và trả lời phỏng vấn, Nguyễn Minh Châu từng thú nhận rằng ông và nhiều cây bút khác đã từng “khiếp hãi trước cái xấu và cái ác”, khi không làm được thì “coi như không có nó-cuộc đời không có cái xấu và cái ác đang hoành hành, đang chi phối số phận con người, coi như cuộc đời không còn oan khiên, oan khuất”.Theo ông, viết về cái ác phải là nhà văn mạnh mẽ, khác với bản thân ông “khi đọc sách đến đoạn mô tả cảnh giết người, tôi đã nhảy qua. Cái tạng của mình nó yếu ớt đến nỗi tiếp nhận đã ghê sợ, huống hồ làm ra”. Không thể “làm ra” một phần vì trước đó, khi đề cập đến con người, văn chương không được phép nói đến cái ác, cái phi đạo đức.Cho nên, mặc dù đã là người mở đường tinh anh của văn học Đổi mới nhưng rõ ràng, qua lời tự thú và thực tiễn văn chương của Nguyễn Minh Châu, ta thấy ông chưa phải là ngòi bút đi sâu nhận diện cái ác, chưa chiếm lĩnh cái ác như một cảm hứngtriết luận để thúc đẩy những phân tích kĩ lưỡng về bản chất đời sống. Tính chất chuyển tiếp từ Nguyễn Minh Châu sang Nguyễn Huy Thiệp cũng có thể coi là sự đi tới cùng một đề tài văn học – viết về cái ác mà giai đoạn Đổi mới nónglòng chờ đợi để cắt nghĩa rốt ráo các thực tế xã hội, các góc khuất nhân tính khó nắm bắt trong con người.

Dĩ nhiên, viết về cái ác không thể chiều lòng mà đòi hỏi độc giả phải thay đổi khẩu vị văn chương “người tốt việc tốt” án ngữ lâu nay. Khi xã hội nảy sinh cái ác, người ta thường đòi hỏi hỏi pháp luật lên tiếng. Mỗi hệ thống pháp luật, khi đối mặt với tội ác, đều có những khung hình phạt để đền bồi,cải tạo và răn đe. Thiết chế nhà lao, trại cải tạo hay án tử hình sẽ tham gia vào quá trình trừng phạt với mục đích cao nhất là ngăn chặn tái phạm.Thế nhưng, dù chúng ta đang vận hành thiết chế đó thì thực tế vẫn có nhiều vụ án mạng kinh hoàng mà đa số phạm nhân còn rất trẻ, cá biệt, là người trẻ có học, có hiểu biết tối thiểu về thiện ác ở đời. Bởi vậy, khác pháp luật, văn chương thường bắt đầu từ việc thức tỉnh tình thế phạm tội ác của bất kì ai và nói với họ, một cách đồng cảm và sáng suốt, rằng đó là tình thế đau khổ, khốn cùng và tuyệt vọng nhất của conngười. Raskolnikov trong Tội ác và trừng phạt của F. Dostoievki là ví dụ điển hình. Nhưng ngoái lại một điều như thế, chỉ tính trong văn học Việt Nam hiện đại, lại không có nhiều kết quả rõ ràng. Nếu coi gốc gác của hình phạt đối với Raskolnikov bắt nguồn từ một truyền thống tự thú lâu dài trong Thiên chúa giáo phương Tây mà vì thế, sẽ khó đòi hỏi kiểu nhân vật tương tự ở văn học Việt Nam thì đáng lưu ý, là ngay ở tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên, Truyện thầy La-za-rô Phiền (1887) đã có mô hình tự thú, sám hối sơ khai.

Thoạt Kỳ Thuỷ - Nguyễn Bình Phương
Thoạt Kỳ Thuỷ – Nguyễn Bình Phương

Chỉ có điều, mô hình đó đã không được triển khai lâu dài và may mắn được giới cầm bút lưu tâm. Những biến động xã hội, nhất là hai cuộc chiến tranh nối tiếp đã khôngcho phép chúng ta dò thấu tình thế tội ác trong chính con người mình ngoại trừ tốcáo tội ác kẻ thù.Trường hợp Thoạt kì thủy của Nguyễn Bình Phương được viết như một luận đề“nhân chi sơ tính bản ác” và Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh như một bản cáo trạng tự thú, hay cách đặt vấn đề thiện ác trong truyện Nguyễn Huy Thiệp có lẽ là những suy tư ít ỏi về nhu cầu tự trừng phạt, tự phán xét của người Việt, điều cũng đưa ta gần với nhân loại không kém cần cù chịu khó yêu thương. Bởi sự ít ỏi ấy, nên “mùi vị của tội lỗi”, một ham muốn kì quái dưới hành vi tội lỗinhư lời của thánh Augustine trong cuốn Tự thú (Confessions) vẫn chưa bao giờ được xuất hiện đích đáng, bàn luận thấu đáo trong văn học Việt Nam. Nhưng ở đời thực, ngạc nhiên thay, không ít người có chút say mê nhất định khi được “ném đá” người khác, khi sẵn sàng chia sẻ những hành vi bạo lực, gây án, giết người. Sự vô cảm trước tình cảnh của tha nhân hay sự ngang nhiên đến lộng hành của tội phạm, xét cho cùng, không chỉ chiểu theo sự phán xử của luật pháp, mà còn cần đến sám hối, cần đến một thứ văn chương tạo nên trạng thái “hành xác để sám hối” (nghĩa gốc của chữ nhà lao, “penance”) thì mới gợi nên những hi vọng đổi thay. Dễ nhận thấy trạng thái “ngược đời” của báo điện tử hoặc mạng xã hội trong khả năng tô đậm những vụ án mạng theo hướng giật gân, rùng rợn, thoạt tiên đầy vẻ cảnh báo nhưng thực chất là mánh lới chữ nghĩa chèo kéo người đọc.

Tấn bi hài của một bộ phận người đọc đã hiển thị ở việc tìm kiếm tên một sát thủ ngang với tên một diễn viên, người mẫu…, đồng nhất nhu cầu giải trí với hiếu kì tội ác.Thực chất, họ quan tâm đến tội ác hay lâm vào vòng xoáy buôn tin tội ác? Tính chất ngấm ngầm lan truyền của thứ trải nghiệm rất chủ quan này là không gian để các thí nghiệm tội ác có dịp len vào đo mức phản ứng của xã hội, đến khi độ khó, phức tạp của các phát súng, nhát dao, đánh hội đồng, gậy gộc dằn mặt…, mà lời răn dạy đạo đức không thể giải quyết thì mới ngã ngửa rằng chính bản thân là một hiện hữu tội ác.Đối diện với thực trạng này, rất có thể giới nghiên cứu văn chương Việt Nam sẽ đồng cảm hơn với G. Bataille khi ông đã mở rộng phạm vi nghiên cứu văn chương với các vấn đề loạn luân, tính dâm, vấn đề quyền lực, xã hội tiêu thụ, trong chuyên khảo Văn học và cái ác.

Đi chậm, đến sau hoặc không thể tri nhận về tội ác thì văn học vẫn còn đó những khoảng trống nhân tính một cách đúng nghĩa. Khi các thể loại trinh thám, điều tra xử án đang có dấu hiệu sôi động trên văn đàn Việt hôm nay, tưởng có thể bổ khuyết ngay những kiểu mẫu công lí, chứng thực tâm thế nhà văn không thờ ơ trước tội ác thì chúng ta cũng nên ngoái lại một vài chủ ý của Trần Dần, vào 1965, trong Những ngã tư và những cột đèn, rằng: “TỘI và PHẠT phải đi kèm, như bóng với hình, bao giờ cũng phải đi kèm”.

Trần Dần muốn trinh thám nhưng là một kiểu trinh thám Dostoievski, của “một cứu vớt sâu thẳm”, của Tội “đòi phải được trừng phạt” để “thằng phạm tội có thể vui vẻ,trên bản đồ cuộc đời vui vẻ”.Ông không muốn văn chương chỉ chạy theo các vụ án, các tội ác, mà phải làm thế nào để, “tội phạm, và các thứ tội phạm, phải tự gánh lấy tội lỗi của mình”. Nhưng những lí lẽ đáng kính ấy, vì phát ra từ thân phận “con sâu đo”, nên phải đến hơn bốn mươi năm sau, mới được trở lại rộng rãi trong chúng.Quả thật, văn chương của chúng ta đang trễ muộn song vẫn may mắn vì các điểm xuất phát, trong đó có con đường suy tư về tội ác và hình phạt, thật ra, còn rất mênh mông để các tài năng đích thực tự tin bước vào.

—————–
Trích “Văn học và cái ác” – Georges Bataille

>> Đọc thêm : Cái đầu ngựa trong tác phẩm Bố Già

Avatar of Triệu Dương

Một người thích viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội

Leave a Reply

Back To Top

You cannot copy content of this page