Franz Kafka

Ghi chép của Franz Kafka trong chiến tranh thế giới thứ nhất

Views: 11

Franz Kafka ngoài viết văn và sáng tác tiểu thuyết, ông còn ghi nhật ký. Dưới đây là một nội dung trong cuốn nhật ký của Franz Kafka về chiến tranh thế giới thứ nhất.

“Nằm bẹp, táo bón, đau lưng, buổi tối cáu bẳn, mèo chui vào phòng, lòng đầy mâu thuẫn.

Trong cuộc vật lộn giữa mi và thế giới, hãy về phe thế giới. Không ai được phép lừa gạt ai cái gì, kể cả lừa lấy từ thế giới chiến thắng của nó.”

Đây là những câu mở đầu ngày mùng 8 tháng 12 năm 1917 trong cuốn thứ 3 thuộc bộ 8 cuốn sổ ghi chép hàng ngày của Franz Kafka (mà sau này Max Brod thu thập biên tập lại và đặt tên là “The Blue Octavo Notebooks“). Những cuốn sổ tay bìa xanh này được Kafka dùng thay nhật ký trong thời gian từ cuối năm 1917 đến tháng 6 năm 1919, giai đoạn gần cuối Thế chiến thứ nhất cho đến khi chiến tranh kết thúc (ngày 11/11/1918) nhưng hệ quả nó để lại là thương vong và đói khát, bệnh tật vẫn còn ám ảnh châu Âu suốt một thời gian dài sau đó.

Franz Kafka : Ảnh hưởng từ Søren Kierkegaard

Giai đoạn này Franz Kafka không thực hành việc viết đều đặn hàng ngày như nhật ký mà thay vào đó ông dùng sổ để ghi lại những suy tưởng về thân phận con người (nhiều lúc cô đọng đến mức gây khó hiểu) và những đoạn châm ngôn, truyện ngắn, những ý tưởng rời rạc có dáng dấp của các tác phẩm mới được thử nghiệm đang còn dang dở.

Nội dung trong những ghi chép này thể hiện thời gian đó Franz Kafka đã đọc nhiều nghiên cứu về Do Thái giáo, mặc dù trước đó cũng như sau này ông luôn giữ một sự xa cách nhất định với tôn giáo gắn liền với xuất thân của mình và luôn chọn lối sống thế tục. Franz Kafka cũng đọc cả “Kính sợ và Run rẩy”, một tác phẩm nổi tiếng của triết gia Đan Mạch – Søren Kierkegaard, người được coi là ông tổ của chủ nghĩa hiện sinh và dường như cũng bị ảnh hưởng ít nhiều bởi lối viết sử dụng nhiều dụ ngôn mượn từ kinh điển của Søren Kierkegaard.

>> Đọc thêm : 100 năm ngày mất Franz Kafka

Ngày 8 tháng 12 năm 1917

Quay lại với ngày 8 tháng 12 năm 1917, đây là một ngày dài của châu Âu giữa nhiều ngày dài trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, và hẳn cũng là một ngày dài nữa của Franz Kafka lẫn những đồng bào gốc Do Thái khác của ông giữa hàng nghìn năm dài lưu vong ngóng vọng về vùng đất thánh Jerusalem. Vào ngày mùng 8 tháng 12 năm 1917, trên mặt trận Trung Đông của thế chiến thứ nhất, Quân đoàn Yildirim thuộc Đế chế Hồi giáo Ottoman, bao gồm cả một phần quân đội thuộc Quân đoàn Châu Á của Đế quốc Đức gửi sang hỗ trợ, đã rút lui khỏi Jerusalem trước sự tấn công của Lực lượng viễn chinh Ai Cập thuộc Đế quốc Anh, mở ra chuỗi thất thế liên tục trên chiến trường của Đế chế Ottoman cho đến khi quân Anh giành quyền kiểm soát tuyệt đối tại Jerusalem kéo dài đến hết năm 1948 (thời kỳ Lãnh thổ Ủy trị Palestine, khởi nguồn của rất nhiều vấn đề xung đột và đau thương vẫn đang tiếp diễn đến tận bây giờ).

Franz Kafka  khi đó vẫn sống và làm việc tại Praha. Dù luôn bị ám ảnh về cội nguồn Do Thái của mình (phần nhiều là do ảnh hưởng từ việc lớn lên bên cạnh một người cha gia trưởng), ông vốn không phải là một người ủng hộ chủ nghĩa phục quốc quá rõ ràng, mạnh mẽ và dường như luôn tỏ ra bàng quan và dửng dưng với mọi tin tức về thế chiến và chính sự. Trước đó, vào ngày mùng 2 tháng 8 năm 1914, một dấu mốc quan trọng khác của cuộc thế chiến thứ nhất, ông từng ghi trong nhật ký: “Đức đã tuyên chiến với Nga. Buổi chiều đi bơi.”

Franz Kafka hầu như không nhắc một từ nào liên quan trực tiếp đến chiến tranh trong cả 8 cuốn sổ bìa xanh của mình, nhưng thật ra những ghi chép của ông trong giai đoạn này đặc biệt hỗn loạn. Tối mùng 8 tháng 12 năm 1917, sau sự kiện lịch sử ở Jerusalem đã khiến nhiều người Do Thái ở châu Âu xôn xao, ông viết tiếp:

“Chẳng có gì ngoài một thế giới tinh thần; thứ mà chúng ta gọi là thế giới của các giác quan là cái Ác trong thế giới tinh thần, và thứ mà chúng ta gọi là cái Ác chỉ là sự cần thiết của một khoảnh khắc trong sự tiến hóa vĩnh cửu của chúng ta.

Người ta có thể phân rã thế giới bằng cách sử dụng nguồn ánh sáng rất mạnh. Với những đôi mắt yếu, thế giới trở nên hiển hiện, với những đôi mắt yếu hơn nó có vẻ như cồm cộm, với những đôi mắt yếu hơn nữa nó trở nên hổ thẹn và tẩn mạnh bất cứ ai dám nhìn chằm chằm vào nó.

Mọi thứ đều là lừa dối: tìm kiếm sự ảo tưởng tối thiểu, giữ gìn những giới hạn thông thường, tìm kiếm sự tối đa. Trong trường hợp đầu tiên, người ta lừa dối cái Thiện, bằng cách làm cho nó trở nên quá dễ dàng để có được, và lừa dối cái Ác bằng cách áp đặt tất cả những điều kiện quá sức bất lợi trong xung đột lên nó. Trong trường hợp thứ hai người ta lừa dối cái Thiện bằng cách không chiến đấu cho nó ngay cả trong những hoàn cảnh khả thi nhất. Trong trường hợp thứ ba người ta lừa dối cái Thiện bằng cách tránh xa nó nhất có thể, và lừa dối cái Ác bằng cách làm nó mất sạch uy quyền thông qua việc đẩy nó đến mức tối đa. Do đó được ưa chuộng có vẻ là trường hợp thứ hai, vì cái Thiện đằng nào cũng bị lừa dối, trong trường hợp này, ít nhất là đánh giá qua vẻ bề ngoài, thì cái Ác không bị lừa.

Có những câu hỏi chúng ta không thể nào vượt qua nếu chúng ta không được giải phóng khỏi chúng bằng chính bản chất tự nhiên của mình.

Đối với mọi thứ bên ngoài thế giới hiện tượng, ngôn ngữ chỉ có thể được sử dụng theo cách ám chỉ, nhưng thậm chí còn chẳng bao giờ được đến mức tương đương theo lối so sánh, bởi vì, tương tự như quan hệ của nó với thế giới hiện tượng, ngôn ngữ chỉ được quan tâm theo tính sở hữu và các mối quan hệ của nó.

Người ta nói dối càng ít càng tốt bằng cách nói dối càng ít càng tốt, chứ không phải bằng cách có ít cơ hội nhất để làm điều đó.

Nếu tôi nói với đứa trẻ: “Lau miệng đi, rồi cháu sẽ được ăn bánh”, điều ấy không có nghĩa là cái bánh đó kiếm được bằng cách lau miệng, vì việc lau miệng và giá trị của cái bánh không thể so sánh được, nó cũng không làm cho việc lau miệng trở thành một điều kiện tiên quyết để được ăn bánh, vì không có một điều kiện tầm thường như vậy, đứa trẻ vẫn sẽ nhận được chiếc bánh trong mọi trường hợp, khi đó là một phần thiết yếu trong bữa ăn trưa của nó – vì vậy điều rút ra ở đây không có nghĩa là giao dịch bị làm cho khó khăn hơn, mà là nó được thực hiện dễ dàng hơn, lau miệng là một lợi ích nhỏ có trước lợi ích to là việc ăn bánh.”

(Trích dịch “The Blue Octavo Notebooks”, cuốn thứ 3 – Franz Kafka)

tranh vẽ Franz Kafka
Tranh vẽ tay của Franz Kafka

Lời bàn

Đây là một trong những trích đoạn khiến người đọc cảm thấy khó hiểu nhất trong loạt ghi chép vốn đã không dễ hiểu của Franz Kafka, dẫu có đọc đi đọc lại và cố lần tìm theo các dấu hiệu mã hóa (giả như mà có) ẩn giấu ở các đoạn liền trước, liền sau, bên trong hay bên ngoài những cuốn sổ này thì cũng chưa chắc đã tìm thấy một mối liên hệ nào khả dĩ. Nhưng ngày nay, giữa những tin tức khủng khiếp về chiến tranh và xung đột vẫn đang tiếp tục nổ ra không có dấu hiệu dừng lại khắp nơi nơi trên thế giới, và bất kỳ ai cũng có thể bị lên án vì sự im lặng hay bối rối của mình, chúng ta có thể phần nào mơ hồ hiểu được cảm giác hỗn loạn trong những ngày ấy của Kafka, trong cuộc vật lộn nội tâm của ông để đi tìm một cách nhìn nhận thật sáng suốt và chân thật, không dối trá về những gì đang diễn ra trên thế giới.

Trong mọi trường hợp, trong mọi khả thể nhìn nhận của con người về thế giới, cái Thiện là thứ bao giờ cũng yếu thế, bao giờ cũng bị lừa dối, bị lựa chọn hy sinh trong những cuộc chiến vẫn luôn được rao giảng là để phục vụ một lợi ích nào đó lớn lao hơn. Cái Thiện là thứ duy nhất cần đến sự đấu tranh của con người để bảo vệ cho nó.

Dẫu đôi khi lựa chọn đấu tranh cho cái Thiện có thể đem đến cảm giác đau khổ và đầy mâu thuẫn như thể một cá nhân đang phải vật lộn với cả thế giới, và rõ ràng chính Franz Kafka cũng nhận ra ở khía cạnh cá nhân thì chiến thắng thế giới hay đối chọi được với lý lẽ của thế giới là điều bất khả, việc nên làm là quy phục, là trả lại chiến thắng tất yếu cho thế giới – một cái toàn thể quyền uy, nhưng dường như chính ông cũng không làm được, hay ít nhất cũng không thể giả bộ mình đã làm được điều đó một cách dễ dàng (nếu không thì những đoạn ghi chép về sau của ông đã bớt hỗn loạn). Lựa chọn ngôn từ ở đây đã phần nào hé lộ sự “đấu tranh” thầm lặng của nhà văn để mở ra một tia hy vọng: xét cho cùng thế giới là gì, nếu không phải là tập hợp của vô số lựa chọn cá nhân cộng gộp?

Chiến thắng tất yếu và tất nhiên của thế giới, một chiến thắng hiển nhiên phải được công nhận và không thể bị lừa gạt – chẳng phải chính là chiến thắng của những người dám tin tưởng và dám đấu tranh cho hình ảnh lý tưởng của họ về thế giới đó sao?

>> Đọc thêm : Những câu mở đầu ấn tượng trong các tiểu thuyết

Avatar of Chim Én

Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội

Published by

Avatar of Chim Én

Chim Én

Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội

Leave a ReplyCancel reply

You cannot copy content of this page

Exit mobile version