banner web

Giải thưởng văn học Goncourt

giải thưởng văn học Goncourt

Giải thưởng văn học Goncourt (Prix Goncourt) là một giải thưởng văn học Pháp được sáng lập theo di chúc của Edmond de Goncourt vào năm 1896. Hội văn học Goncourt thành lập chính thức năm 1900 và giải đầu tiên được trao ngày 21 tháng 12 năm 1903.

Giải Goncourt được sáng lập để trao cho «tác phẩm văn xuôi xuất sắc nhất trong năm» và định kỳ mỗi năm một lần, nhưng hầu như chỉ trao cho tiểu thuyết. Nó là giải thưởng văn học Pháp mà bất cứ nhà văn viết tiếng Pháp nào đều mong muốn nhất. Mặc dù tiền thưởng của giải chỉ là 10 euro, nhưng sự nổi tiếng mà Goncourt đem lại cho cuốn sách sẽ là một phần thưởng còn to lớn hơn rất nhiều.

>> Giải thưởng văn học Renaudot

Các thành viên của viện Goncourt họp vào các thứ ba đầu tiên mỗi tháng trong phòng khách của họ tại tầng hai nhà hàng Drouant ở Paris (Place Gaillon, quận 2). Tên người được giải sẽ công bố ngày 3 tháng 11 sau bữa ăn trưa tại nhà hàng (Năm nay, do ảnh hưởng của Covid-19 nên thời gian công bố đã được lùi lại).

Giải chỉ trao cho mỗi nhà văn một lần. Duy có Romain Gary năm 1956 nhận giải với tiểu thuyết «Racines du ciel» (Rễ trời) và năm 1975 nhận một giải nữa với «La vie devant soi» (Cuộc sống ở trước mặt), nhưng dưới bút danh Émile Ajar.

Anh em nhà Goncourt

Anh em nhà Goncourt
Anh em nhà Goncourt

Trong lịch sử văn học Pháp, người ta vẫn thường nói Edmond và em trai Jules de Goncourt, còn được gọi là anh em nhà Goncourt, là những kẻ thất bại chính hiệu. Ban đầu cả hai muốn thành họa sĩ, nhưng lại chẳng vẽ được, rồi đổi hướng muốn viết tiểu thuyết, nhưng cũng không thành công, chẳng ai nhớ được anh em họ có tác phẩm gì. Làm gì cũng long đong lận đận, sự nghiệp lỡ dở, cả hai cũng chưa bao giờ kết hôn.

Lịch sử 119 năm của giải thưởng Goncourt

Dù không thành công trong sự nghiệp, nhưng họ đã làm tốt công tác “đầu thai”. Xuất thân quý tộc tư sản nhỏ, gia cảnh khá giả, thêm vào đó là sống nhờ vào món thừa kế của mẹ để lại, từ năm 1848, anh em Goncourt mỗi năm được lãnh một khoản 5.000 francs (tương đương 30.000 euro) giúp họ có thể sống thoải mái mà không cần lao động bằng ngòi bút của mình, trái với đa số nhà văn Pháp ở thế kỷ 19 phải xoay sang viết loại văn “thị trường” mới có thể nuôi được gia đình (như viết kịch đường phố, kịch vui hoặc viết tiểu thuyết đăng báo hàng ngày), nếu không thì phải chấp nhận cảnh sống nghèo khổ như Baudelaire, Gérard de Nerval.

Xuất thân tốt, nhưng cũng thật không may, hầu hết quý tộc độc thân thời đó như Flaubert và Maupassant đều bị nhiễm bệnh giang mai, và anh em nhà Goncourt cũng không ngoại lệ. Năm 1870, Jules bị giang mai thần kinh khiến anh không thể nói được, và chết sớm ở tuổi 39.

Nhưng ngay từ năm 1862, Edmond đã quyết định, rằng sau khi qua đời, tài sản của cả hai anh em sẽ được bán lấy vốn gửi ngân hàng, lợi tức từ khoản vốn gửi sẽ được dùng cho Hội văn học Goncourt để trả thù lao cho 10 nhà văn, và lập ra Giải thưởng Goncourt với khoản tiền thưởng 5.000 franc vàng trao cho một tác phẩm văn xuôi xuất sắc xuất bản trong năm.

Năm 1896, Edmond qua đời, việc thi hành ý nguyện được Edmond phó thác cho Alphonse Daudet và Léon Hennique – nhưng việc này đã gặp sự chống đối của gia đình Goncourt và cuộc tranh chấp pháp lý diễn ra kéo dài tới ngày 1/3/1900, khiến cho việc lập Hội văn học Goncourt bị chậm trễ, mãi tới năm 1900 mới đủ số hội viên và phải tới năm 1903 mới trao giải thưởng Goncourt lần đầu.

Alphonse Daudet đã qua đời trước khi được trao một ghế trong hội, ghế này đã được trao cho con ông là Léon Daudet, còn Léon Hennique được trao một ghế.

Hội văn học Goncourt họp trong một bữa ăn trưa hàng tháng (ngày thứ ba đầu tiên trong tháng, ngoại trừ tháng 8), từ năm 1903 tới năm 1919 trong các tiệm ăn khác nhau ở Paris, sau đó kể từ năm 1920, chỉ họp và ăn ở tiệm Drouant tại phố Gaillon, quận 2.

Kể từ năm 1903, nhiều cái tên đoạt giải thưởng Goncourt đã đi vào lịch sử văn học thế giới như: Proust, Malraux, Simone de Beauvoir, Duras… và Goncourt đã trở thành giải thưởng văn học uy tín và có thẩm quyền nhất ở Pháp.

Giải thưởng ban đầu cho những người chiến thắng là 5.000 franc do Edmond de Goncourt quy định, đã được đổi thành 50 franc vào năm 1960 do lạm phát. Giờ đây giá trị giải thưởng còn lại chỉ vẻn vẹn 10 euro. Tuy nhiên, tiền thưởng chỉ mang tính biểu tượng, vì tác phẩm đoạt giải không chỉ nổi tiếng ở Pháp, mà còn được dịch ra nhiều thứ tiếng, trung bình bán được 400.000 bản, chỉ cần đoạt giải, tác giả sẽ nổi tiếng thế giới, vậy nên danh tiếng là chuyện lớn, tiền thưởng là chuyện nhỏ.

Cũng như bất kỳ giải thưởng nào khác, giải thưởng Goncourt thường xuyên bị chỉ trích là đã “bỏ sót” các tác giả lớn lừng lẫy của thế kỷ 20, đặc biệt là: Guillaume Apollinaire và Colette (người sau này trở thành thành viên và sau đó là chủ tịch của Hội đồng Goncourt).

Trong số những tác giả Pháp được thế giới yêu thích, công nhận, thậm chí các tác gia Pháp đoạt giải Nobel cũng bị giải Goncourt xa lánh có tên của André Gide, Jean-Paul Sartre, Albert Camus, Claude Simon, Françoise Sagan, Le Clézio…

Đổi đời nhờ đoạt giải Goncourt

Nhưng dù cho thế nào, ​​Goncourt vẫn là giải thưởng văn học được thèm muốn nhất ở Pháp, lợi ích tiền bạc và danh tiếng giải thưởng Goncourt mang lại, không có gì sánh kịp, nó có thể thay đổi số phận của tác giả và thậm chí cả nhà xuất bản. Người ta đã tính ra được lợi nhuận cho nhà xuất bản ít nhất sẽ là ba triệu euro trong vòng tám tuần kể từ khi nhận được giải thưởng.

Michel Tournier không một xu dính túi và gần như sống trên đường phố sau những năm đầu thất nghiệp, cho đến khi cuốn tiểu thuyết Chúa tể đầm lầy của ông giành được giải thưởng Goncourt năm 1970 và bán được 2 triệu bản.

Nhà văn Nga Andreï Makine đang trong tình trạng nghèo đói, ông từng phải sống tạm trong nghĩa trang khi đến Pháp, sau đó ông trở nên nổi tiếng với cuốn tiểu thuyết Di chúc Pháp, đoạt giải năm 1995 ngay sau đó đã bán được 2,5 triệu bản.

Jérôme Lindon, Giám đốc nhà xuất bản Minuit, từng thừa nhận rằng hai chiến thắng cho cuốn Người tình của Marguerite Duras năm 1984 và cuốn Chiến trường vinh quang của Jean Rouaud năm 1990 đã giúp nhà xuất bản của ông thoát khỏi phá sản.

Chính vì vậy, giải thưởng Văn học Goncourt đã trở thành mục tiêu được các nhà văn và nhà xuất bản. Quá trình trao giải thường sẽ có tính cạnh tranh gay gắt.

Thierry Laget, trong cuốn sách Proust, giải Goncourt: một cuộc bạo loạn văn học, có kể câu chuyện về giải thưởng Goncourt năm 1919 qua các tài liệu thời đó, đặc biệt phân tích báo chí tỉ mỉ. Quả thật là một cuộc bạo loạn văn học, kết quả giải Goncourt năm 1919 đã khiến cho báo giới tốn không biết bao nhiêu là giấy mực.

Năm ấy, giải thưởng Goncourt gần như là sự cạnh tranh giữa tiểu thuyết Cây thánh giá gỗ của Roland Dorgelès và Dưới bóng những cô gái đương hoa (Tập 2 kiệt tác Đi tìm thời gian đã mất) của Marcel Proust.

Cây thánh giá gỗ mô tả cuộc sống của binh lính Pháp trong Thế chiến thứ nhất, và bày tỏ lòng thương tiếc của người dân Pháp đối với những người chết lúc bấy giờ, chiến tranh vừa kết thúc, thế nên cuốn sách đã trở thành ứng viên nặng ký nhất cho giải thưởng Goncourt.

Dưới bóng những cô gái đương hoa
Dưới bóng những cô gái đương hoa

Còn tiểu thuyết của Proust không nói gì về cuộc chiến vừa kết thúc, và thêm cái nữa là Proust với tình trạng sức khỏe yếu ớt, đã không tham gia chiến đấu. Tuy nhiên, một mặt nước Pháp mong muốn quên đi nỗi kinh hoàng của cuộc chiến và nhìn về tương lai, nhưng mặt khác, nhiều người vẫn cảm thấy cần phải tưởng nhớ những người lính hy sinh cùng những đau thương đã xảy ra, và người ta muốn nỗi đau được vang vọng trong các tiểu thuyết chiến tranh. Nhưng cuối cùng, Dưới bóng những cô gái đương hoa đã chiến thắng Cây thánh giá gỗ với số phiếu sít sao 6/10 phiếu.

Giải thưởng làm dấy lên một làn sóng bất bình của giới cựu chiến binh và những ai phải gánh chịu hậu quả của cuộc chiến: những người chậm xuất ngũ, hoặc phải chịu ảnh hưởng của tham ô tái thiết, những kẻ trục lợi chiến tranh, những khó khăn của cuộc sống sau chiến tranh ở những vùng đổ nát…

Nhà xuất bản Albin Michel, lợi dụng việc công khai phiếu bầu giải thưởng, đã xuất bản cuốn Cây thánh giá gỗ ngoài bìa ghi rõ: Được 4 phiếu trên 10 phiếu bầu chọn giải thưởng Goncourt.

Tuy bị nhà xuất bản Gallimard kiện, rồi phải bồi thường thiệt hại hơn 2.000 franc, nhưng cách báo chí và công luận bàn tán xôn xao về giải thưởng Goncourt… Proust, Dorgelès và các nhà xuất bản của họ hoàn toàn nhận thức được rằng các bài báo được xuất bản, dù đáng khen hay không, đều khiến mọi người bàn tán về tác giả và tác phẩm. Và họ đã không nhầm: vào năm 1920, Dưới bóng những cô gái đương hoa đã được in lần thứ 42.

Một số sách đoạt giải Goncourt  đã được xuất bản tại Việt Nam:

  1. 1905: Những kẻ văn minh (Les Civilisés) – Claude Farrère
  2. 1916: Khói lửa (Le Feu) – Henri Barbusse
  3. 1919: Dưới bóng những cô gái đương hoa (À l’ombre des jeunes filles en fleurs) – Marcel Proust
  4. 1933: Thân phận con người (La Condition humaine)- André Malraux
  5. 1936: Sự tha thứ muộn màng (L’Empreinte du dieu) – Maxence Van der Meersch
  6. 1948: Những gia đình cự tộc (Les Grandes Familles)- Maurice Druon
  7. 1951: Bờ biển Syrtes (Le Rivage des Syrtes) – Julien Gracq
  8. 1956: Rễ trời (Les Racines du ciel) – Romain Gary
  9. 1970: Chúa tể đầm lầy (Le Roi des aulnes) – Michel Tournier
  10. 1974: Cô thợ thêu (La Dentellière) – Pascal Lainé
  11. 1975: Cuộc sống ở trước mặt (La Vie devant soi) – Émile Ajar
  12. 1977: Câu chuyện New York (John l’Enfer) – Didier Decoin
  13. 1978: Phố những cửa hiệu u tối (Rue des Boutiques obscures) – Patrick Modiano
  14. 1984: Người tình (L’Amant) – Marguerite Duras
  15. 1985: Những cuộc hôn thú man dại (Les Noces barbares) – Yann Queffélec
  16. 1987: Đêm thiêng (La Nuit sacrée) – Tahar Ben Jelloun
  17. 1988: Triển lãm thuộc địa (L’Exposition coloniale) – Erik Orsenna
  18. 1989: Tạ ơn Thượng Đế (Un grand pas vers le bon Dieu) – Jean Vautrin
  19. 1990: Chiến trường vinh quang (Les Champs d’honneur) – Jean Rouaud
  20. 1991: Những người con gái dòng Chúa chịu nạn (Les Filles du Calvaire) – Pierre Combescot
  21. 1995: Di chúc Pháp (Le Testament français) – Andreï Makine
  22. 1996: Chiếc máy bay tiêm kích Zéro (Le Chasseur Zéro) – Pascale Roze
  23. 1997: Chiến trận (La Bataille) – Patrick Rambaud
  24. 1998: Nỗi niềm (Confidence pour confidence) – Paule Constant
  25. 1999: Tôi đi đây (Je m’en vais) – Jean Echenoz
  26. 2000: Ingrid Caven – Jean-Jacques Schuhl
  27. 2001: Brésil Đỏ (Rouge Brésil) – Jean-Christophe Rufin
  28. 2003: Người tình của Brecht (La Maîtresse de Brecht) – Jacques-Pierre Amette
  29. 2004: Mặt trời nhà Scorta (Le Soleil des Scorta) – Laurent Gaudé
  30. 2005: Ba ngày ở nhà mẹ (Trois jours chez ma mère) – François Weyergans
  31. 2006: Những kẻ thiện tâm (Les Bienveillantes) – Jonathan Littell
  32. 2007: Alabama Song – Gilles Leroy
  33. 2008: Nhẫn thạch (Syngué sabour. Pierre de patience) – Atiq Rahimi
  34. 2009: Ba phụ nữ can đảm (Trois femmes puissantes) – Marie NDiaye
  35. 2010: Bản đồ và vùng đất (La Carte et le Territoire) – Michel Houellebecq
  36. 2012: La Mã sụp đổ (Le Sermon sur la chute de Rome) – Jérôme Ferrari
  37. 2013: Hẹn gặp lại trên kia (Au revoir là-haut) – Pierre Lemaitre
  38. 2014: Không khóc (Pas pleurer) – Lydie Salvayre
  39. 2016: Người lạ trong nhà (Chanson douce) – Leïla Slimani
  40. 2017: Chương trình nghị sự (L’Ordre du jour) – Éric Vuillard
  41. 2018: Leurs enfants après eux – Nicolas Mathieu (sách đã được Nhã Nam mua bản quyền)
  42. 2019: Không ai sống giống ai trong cuộc đời này – Jean-Paul Dubois
  43. 2020: L’Anomalie – Hervé Le Tellier (sách đã được Nhã Nam mua bản quyền)

DANH SÁCH GIẢI THƯỞNG GONCOURT

Năm Hình ảnh Tác giả Tác phẩm Nhà xuất bản (lần) Bản dịch tiếng Việt Chú thích
1903 John-Antoine Nau John-Antoine Nau Force ennemie La Plume Nhà văn Mỹ gốc Pháp viết bằng tiếng Pháp, người đầu tiên nhận giải Goncourt
1904 Léon Frapié Léon Frapié La Maternelle Albin Michel
1905 40px Claude Farr%C3%A8re 1923 Claude Farrère Les Civilisés Paul Ollendorff Những kẻ văn minh
1906 40px Jean et J%C3%A9r%C3%B4me Tharaud 1923 Jérôme và Jean Tharaud Dingley, l’illustre écrivain Édouard Pelletan
1907 40px Emile Moselly 01 Émile Moselly Terres lorraines et Jean des Brebis ou le Livre de la misère Plon
1908 40px Francis de Miomandre Francis de Miomandre Écrit sur de l’eau… Édition du Feu, sau đó là Émile-Paul Frères
1909 40px Touche %C3%A0 tout 1910 Ary et Marius Leblond par Henri Manuel Marius-Ary Leblond En France Fasquelle Bút danh của hai anh em họ, nhà văn gốc đảo Réunion
1910 40px Louis Pergaud Louis Pergaud De Goupil à Margot Mercure de France
1911 40px Chateaubriant%2C Alphonse Alphonse de Châteaubriant Monsieur des Lourdines Grasset
1912 André Savignon Filles de la pluie Grasset (2)
1913 Marc Elder Le Peuple de la mer Calmann-Lévy Từng xuất bản ở nhà G. Oudin & Cie với tựa khác
1914 Adrien Bertrand L’Appel du sol Calmann-Lévy (2) Được trao vào năm 1916
1915 René Benjamin Gaspard Fayard
1916 40px Henri Barbusse Henri Barbusse Le Feu Flammarion Khói lửa[2]
1917 Henry Malherbe La Flamme au poing Albin Michel (2)
1918 40px Georges Duhamel 1930 Georges Duhamel Civilisation Mercure de France (2)
1919 40px Marcel Proust 1895 Marcel Proust À l’ombre des jeunes filles en fleurs Gallimard Dưới bóng những cô gái tuổi hoa
Dưới bóng những cô gái đương hoa
[3]
Đi tìm thời gian đã mất (tập 2)
1920 Ernest Pérochon Nêne Plon (2) Từng xuất bản ở nhà Clouzot năm 1914
1921 40px Ren%C3%A9 Maran 1930 René Maran Batouala Albin Michel (3) Nhà văn Tây Ấn đầu tiên nhận giải
1922 40px Henri B%C3%A9raud Henri Béraud Le Vitriol de Lune và Le Martyre de l’obèse Albin Michel (4)
1923 40px Lucien fabre par vuillard Lucien Fabre Rabevel ou le Mal des ardents Gallimard (2)
1924 Thierry Sandre Le Chèvrefeuille, le Purgatoire, le Chapitre XIII Gallimard (3) Từng xuất bản ở nhà Edgard Malfère với tựa khác
1925 40px MG Portrait au trait Maurice Genevoix Raboliot Grasset (3)
1926 40px Henri Deberly Le Supplice de Phèdre Gallimard (4)
1927 40px Maurice Bedel 1927 Maurice Bedel Jérôme 60° latitude nord Gallimard (5)
1928 Maurice Constantin-Weyer Un homme se penche sur son passé Rieder
1929 40px Marcel Arland 1929 Marcel Arland L’Ordre Gallimard (6)
1930 40px Henri Fauconnier Malaisie Stock
1931 40px Jean Fayard Mal d’amour Fayard (2)
1932 40px Guy Mazeline 1932 Guy Mazeline Les Loups Gallimard (7)
1933 40px André Malraux La Condition humaine Gallimard (8) Thân phận con người[4]
1934 40px Roger Vercel 1934 Roger Vercel Capitaine Conan Albin Michel (5)
1935 40px Joseph Peyr%C3%A9 1935 Joseph Peyré Sang et Lumières Grasset (4)
1936 40px Maxence Van der Meersch L’Empreinte du dieu Albin Michel (6) Sự tha thứ muộn màng[5]
1937 Charles Plisnier Faux Passeports Corrêa Nhà văn Bỉ, tác giả nước ngoài đầu tiên nhận giải
1938 40px Henri Troyat Henri Troyat L’Araigne Plon (3)
1939 40px Philippe Hériat Les Enfants gâtés Gallimard (9)
1940 Francis Ambrière Les Grandes Vacances Nouvelle France Giải thưởng được bảo lưu và được trao năm 1946
1941 40px Henri Pourrat%2C le Vernet%2C 1954 Henri Pourrat Vent de Mars Gallimard (10)
1942 40px Marc Bernard 1934 Marc Bernard Pareils à des enfants Gallimard (11)
1943 Marius Grout Passage de l’homme Gallimard (12)
1944 40px Elsa triolet 1925 Elsa Triolet Le premier accroc coûte 200 francs Denoël Nhà văn nữ đầu tiên nhận giải
1945 40px Jean Jean-Louis Bory Mon village à l’heure allemande Flammarion (2)
1946 Jean-Jacques Gautier Histoire d’un fait divers Julliard
1947 Jean-Louis Curtis Les Forêts de la nuit Julliard (2)
1948 40px Maurice Druon Les Grandes Familles Julliard (3) Những gia đình cự tộc[6]
1949 40px Robert Merle %281964%29 Robert Merle Week-end à Zuydcoote Gallimard (13)
1950 Paul Colin Les Jeux sauvages Gallimard (14)
1951 Julien Gracq Le Rivage des Syrtes Corti Bờ biển Syrtes[7] Tác giả từ chối nhận giải
1952 Béatrix Beck Léon Morin, prêtre Gallimard(15)
1953 Pierre Gascar Les Bêtes Gallimard (16)
1954 40px Simone de Beauvoir2 Simone de Beauvoir Les Mandarins Gallimard (17)
1955 Roger Ikor Les Eaux mêlées Albin Michel (7)
1956 Romain Gary Les Racines du ciel Gallimard (18) Rễ trời[8]
1957 Roger Vailland La Loi Gallimard (19)
1958 Francis Walder Saint-Germain ou la Négociation Gallimard (20) Nhà văn Bỉ
1959 André Schwarz-Bart Le Dernier des Justes Seuil
1960 Vintila Horia Dieu est né en exil Fayard (3) Giải thưởng được công bố nhưng không được trao vì quá khứ chính trị của tác giả
1961 Jean Cau La Pitié de Dieu Gallimard (21)
1962 40px Anna Langfus Anna Langfus Les Bagages de sable Gallimard (22)
1963 Armand Lanoux Quand la mer se retire Julliard (4)
1964 40px Georges conchon Georges Conchon L’État sauvage Albin Michel (7)
1965 Jacques Borel L’Adoration Gallimard (23)
1966 40px Edmonde Charles Edmonde Charles-Roux Oublier Palerme Grasset (5)
1967 André Pieyre de Mandiargues La Marge Gallimard (24)
1968 Bernard Clavel Les Fruits de l’hiver Robert Laffont
1969 Félicien Marceau Creezy Gallimard (25)
1970 40px Michel Tournier cropped Michel Tournier Le Roi des aulnes Gallimard (26) Chúa tể đầm lầy[9] Trường hợp duy nhất nhận được sự đồng thuận của ban giám khảo (ở vòng hai)[10]
1971 Jacques Laurent Les Bêtises Grasset (6)
1972 40px Jean Carriere Jean Carrière L’Épervier de Maheux Pauvert
1973 40px Jacques Chessex L’Ogre Grasset (7) Nhà văn Thụy Sĩ đầu tiên nhận giải
1974 Pascal Lainé La Dentellière Gallimard (27) Cô thợ thêu[11]
1975 Émile Ajar La Vie devant soi Mercure de France (3) Cuộc sống ở trước mặt[12] Trường hợp duy nhất nhận giải lần hai, sử dụng bút danh nhằm che giấu danh tính thực
1976 40px Patrick Grainville01 Patrick Grainville Les Flamboyants Seuil (2)
1977 40px Didier Decoin John l’Enfer Seuil (3) Câu chuyện New York[13]
1978 40px Patrick Modiano 6 dec 2014 23 Patrick Modiano Rue des Boutiques obscures Gallimard (28) Phố những cửa hiệu u tối[14]
1979 Antonine Maillet Pélagie-la-Charrette Grasset (8) Nhà văn Canada đầu tiên nhận giải
1980 40px Yves Navarre Le Jardin d’acclimatation Flammarion (3)
1981 Lucien Bodard Anne Marie Grasset (9)
1982 40px Dominique Fernandez Dans la main de l’ange Grasset (10)
1983 Frédérick Tristan Les Égarés Balland
1984 40px Marguerite Duras 1993 Marguerite Duras L’Amant Minuit Người tình[15]
1985 40px Yann Quef%C3%A9llec 2013 a Yann Queffélec Les Noces barbares Gallimard (29) Những cuộc hôn thú man dại[16]
1986 Michel Host Valet de nuit Grasset (11)
1987 40px Tahar Ben Jelloun La Nuit sacrée Seuil (4) Đêm thiêng[17] Nhà văn Maroc và châu Phi đầu tiên nhận giải
1988 40px Cohen Solal Mutualite 2008 03 03 n3 Erik Orsenna L’Exposition coloniale Seuil (5) Triển lãm thuộc địa[18]
1989 Jean Vautrin Un grand pas vers le bon Dieu Grasset (12) Tạ ơn Thượng Đế[19]
1990 Jean Rouaud Les Champs d’honneur Minuit (2) Chiến trận
Chiến trường vinh quang
1991 Pierre Combescot Les Filles du Calvaire Grasset (13) Những người con gái dòng Chúa chịu nạn
1992 40px Patrick Chamoiseau Texaco Gallimard (30)
1993 40px Amin Maalouf Le Rocher de Tanios Grasset (14) Nhà văn Liban đầu tiên nhận giải
1994 40px Didier van Cauwelaert Un aller simple Albin Michel (8)
1995 40px Andrei Makine Andreï Makine Le Testament français Mercure de France (4) Di chúc Pháp Cũng nhận được Giải Médicis
1996 Pascale Roze Le Chasseur Zéro Albin Michel (9) Chiếc máy bay tiêm kích Zéro
1997 40px Patrick Rambaud 2010 b Patrick Rambaud La Bataille Grasset (15) Chiến trận Cũng nhận được Giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp
1998 40px Paule Constant Confidence pour confidence Gallimard (31) Nỗi niềm
1999 Jean Echenoz Je m’en vais Minuit (3) Tôi đi đây
2000 Jean-Jacques Schuhl Ingrid Caven Gallimard (32) Ingrid Caven
2001 40px Jean Jean-Christophe Rufin Rouge Brésil Gallimard (33) Brésil Đỏ
2002 40px Pascal Quignard le 5 avril 2013 Pascal Quignard Les Ombres errantes Grasset (16)
2003 Jacques-Pierre Amette La Maîtresse de Brecht Albin Michel (10) Người tình của Brecht
2004 40px Laurent Gaudé Le Soleil des Scorta Actes Sud Mặt trời nhà Scorta
2005 François Weyergans Trois jours chez ma mère Grasset (17) Ba ngày ở nhà mẹ Nhà văn Bỉ
2006 40px Jonathan Littell Les Bienveillantes Gallimard (34) Những kẻ thiện tâm Cũng nhận được Giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp
2007 40px Gilles Leroy Alabama Song Mercure de France (5) Alabama Song
2008 40px Atiq Rahimi 2010 c Atiq Rahimi Syngué sabour. Pierre de patience P.O.L. Nhẫn thạch
2009 40px Marie NDiaye Trois femmes puissantes Gallimard (35) Ba phụ nữ can đảm
2010 40px 2008.06.09. Michel Houellebecq Fot Mariusz Kubik 08 Michel Houellebecq La Carte et le Territoire Flammarion (4) Bản đồ và vùng đất
2011 40px Alexis Jenni L’Art français de la guerre Gallimard (36)
2012 40px J%C3%A9r%C3%B4me Ferrari 2010 %28crop%29 Jérôme Ferrari Le Sermon sur la chute de Rome Actes Sud (2) La Mã sụp đổ
2013 40px Pl.pers Pierre Lemaitre Au revoir là-haut Albin Michel (11) Hẹn gặp lại trên kia
2014 40px Lydie Salvayre Pas pleurer Seuil (6) Không khóc
2015 40px Mathias Énard Boussole Actes Sud (3)
2016 40px Le%C3%AFla Slimani no Fronteiras do Pensamento S%C3%A3o Paulo 2018 %2842891129632%29 Leïla Slimani Chanson douce Gallimard (37) Người lạ trong nhà
2017 40px Portrait d%27Eric Vuillard Éric Vuillard L’Ordre du jour Actes Sud (4) Chương trình nghị sự
2018 40px Nicolas Mathieu Leurs enfants après eux Actes Sud (5)
2019 Jean-Paul Dubois Tous les hommes n’habitent pas le monde de la même façon L’Olivier Không ai sống giống ai trong cuộc đời này
2020 40px Herv%C3%A9 Le Tellier %281%29 Hervé Le Tellier L’Anomalie Gallimard (38)
2021 Mohamed Mbougar Sarr La plus secrete memoire des hommes Tạm dịch: Ký ức tuyệt mật của đàn ông
2022 Brigitte Giraud Vivre Vite. Sống vội (Nhã Nam)
Avatar of Chim Én
 | Website

Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội

Leave a Reply