banner web

Luận về Thiên thời – Địa Lợi – Nhân hoà trong Tam Quốc Diễn Nghĩa

tam quốc diễn nghĩa

Tam quốc Diễn Nghĩa thì ai cũng đều biết đến Thiên thời – Địa lợi – Nhân Hoà nhưng sự thật ai được những điều trên. Nói theo cách thông thường thì Tào Tháo được thiên thời, Tôn Quyền được địa lợi, Lưu Bị được nhân hòa. Đây chỉ là lời của tiểu thuyết gia, nên rất đáng ngờ.

Tào Tháo có được thiên thời không?

Nhiều người đã nghi ngờ điều này từ lâu. Lưu Bị được nhân hòa à? Tôi thấy cũng chưa chắc.

Thế nào là Thiên Thời

Thiên thời
Tào Tháo

Chính là xu thế phát triển của xã hội. Xu thế phát triển bấy giờ là gì? Là giai cấp địa chủ sĩ tộc ắt sẽ trở thành vai chính trên vũ đài chính trị. Vậy Tào Tháo có đại diện cho xu thế này không? Không hề. Đại diện cho xu thế này là Tư Mã Ý. Tào Tháo có đại diện cho giai cấp này không? Cũng không. Đại diện cho giai cấp này là Viên Thiệu. Nếu đã như vậy, sao có thể nói là Tào Tháo “được thiên thời”?

>> Tào Tháo : Tài dùng binh và điểu khiển quân đội

Lưu Bị không được Nhân Hoà

Lưu Bị
Lưu Bị phiên bản điện ảnh

Lưu Bị cũng chưa hẳn là “được nhân hòa”. Giai đoạn đầu thì được, Lưu, Quan, Trương thân như anh em, Gia Cát Lượng, Bàng Thống, Pháp Chính cũng hết lòng phò tá.Có người nhận xét về Lưu Bị rằng ông là “người có tài, lấy được lòng dân, không bao giờ để người khác thấy mình kém cỏi”. Thuật xưng vương của ông không phải là tấn công và cướp bóc lãnh thổ, cũng không phải là âm mưu, mà là thu phục lòng dân và tập hợp sức mạnh của nhân dân.

Nhưng về sau thì khó nói. “Nồi da xáo thịt” liên tục nổ ra, Lý Nghiêm bị phế, Bành Dạng bị giết, ngay con nuôi Lưu Phong cũng bị ban chết, Ngụy Diên và Dương Nghi cũng đấu đá đến chết.

Thực ra Thục Hán mất nước, một nguyên nhân quan trọng là do đấu đá nội bộ. Tập đoàn Đông Châu và chính quyền Thục Hán bằng mặt không bằng lòng, tập đoàn Ích Châu cũng lục đục với chính quyền Thục Hán, nhân sĩ Ích Châu thậm chí còn mong Tào Ngụy mau tới “giải phóng” cho họ, chỉ muốn Thục Hán mau mau diệt vong, sao có thể nói là “được nhân hòa” đây?

>> Lưu Bị đánh Đông Ngô và thất bại tại Di Lăng

Nói về Tôn Quyền và địa lợi

Tôn Quyền
Tôn Quyền phiên bản điện ảnh

Thành công của Tôn Quyền cũng chưa chắc là nhờ “được địa lợi”. Ban đầu mối lo lớn nhất của ông ta không nằm ở miền bắc (Tào Tháo, Viên Thiệu) cũng không phải ở miền tây (Lưu Biểu, Lưu Chương) mà ở Giang Đông. Lúc này có gì mà gọi là “địa lợi”? Thực ra Tôn Quyền có thể đứng vững chân, sau đó lại sống sót và phát triển được, trước tiên là nhờ “được nhân hòa”.

Tam Quốc chí – Ngô chủ truyện đã viết rõ, Tôn Quyền vừa nối nghiệp, đã có hai trang anh hào khó ai sánh bằng một văn một võ cho rằng Tôn Quyền “có thể cùng dựng nghiệp lớn”, bằng lòng ủng hộ và phò tá ông ta (gửi lòng mà phụng sự) còn giúp ông ta kiến lập quyền uy của mình, đây chẳng lẽ không phải “nhân hòa”?

Chúng ta đều biết, hai người này là Trương Chiêu và Chu Du…
——————-
(Dịch Trung Thiên)

Bàn thêm về Thiên thời – Địa lợi – Nhân Hoà

Như vậy thì, có phải đúng như Dịch Trung Thiên nhận xét: “Đây chỉ là lời của tiểu thuyết gia, nên rất đáng ngờ”?

1. Diễn ngôn của La Quán Trung

Cũng không hẳn như vậy. Nguyên văn diễn ngôn trên là lời của Gia Cát Lượng nói với Lưu Bị trong lần tương kiến ở lều tranh tại Long Trung là thế này:

Tướng quân muốn thành nghiệp bá, thì phải nhường thiên thời cho Tào Tháo ở phía bắc, nhường địa lợi cho Tôn Quyền ở phía nam, còn tướng quân thì nắm vững lấy nhân hoà.

Thời điểm xuất hiện câu nói trở nên rất quan trọng: Đó là năm 207, khi Lưu Bị còn ăn nhờ ở đậu trên địa bàn của Lưu Biểu, Tào Tháo vừa bình định xong miền bắc, chuẩn bị xuôi nam chiếm Kinh châu, Tôn Quyền cách giang nhòm ngó Giang Hạ. Gia Cát Khổng Minh – sau “ba lần thăm lều tranh” của Lưu Huyền Đức – cuối cùng đã ngồi lên chiếc thuyền của Lưu Bị, giúp ông ta vạch ra quy hoạch chiến lược quan trọng nhất của tập đoàn Thục Hán là “Long Trung đối sách”. Diễn ngôn về “thiên thời địa lợi nhân hòa” này – dù là được sáng tạo ra từ ngòi bút của văn nhân La Quán Trung, thì chí ít cũng phản ánh đúng tình hình thực tế tại thời điểm đó.

[…Cần hiểu thiên thời – địa lợi – nhân hòa mà Gia Cát Lượng muốn đề cập ở đây là nói về điểm mạnh nổi bật của 3 tập đoàn Tào – Tôn – Lưu khi đó – thời điểm đang diễn ra, chứ không phải vấn đề sau này khi Tam Quốc chính thức hình thành. Cũng không nên hiểu một cách cứng nhắc là có cái này thì sẽ không có cái kia, bởi cả 3 tập đoàn đều phải có cả 3 yếu tố, ở một mức độ nhất định nào đó thì mới có thể thành công.

Vào thời điểm đó, Tào Tháo rõ ràng là có ưu thế vượt trội về “thiên thời” – phụng thiên tử đánh kẻ có tội. Tôn Quyền có ưu thế vượt trội về “địa lợi” – lãnh thổ được ngăn cách với phương bắc bởi thiên hiểm Trường Giang. Lưu Bị thì “không còn gì ngoài nhân hòa” – nội bộ đoàn kết và sự ủng hộ của những người mến mộ danh tiếng nhân nghĩa hoặc ủng hộ Hán thất. Do vậy, cách phân chia “thiên thời – địa lợi – nhân hòa” ở đây có lẽ là hoàn toàn hợp lý.]

2 – Đắp tạo diễn ngôn

Thời điểm xuất hiện diễn ngôn được làm rõ đã gián tiếp giải thích cho diễn ngôn “thiên thời địa lợi nhân hòa” dưới góc nhìn của La Quán Trung. Đến đây lại xuất hiện một vấn đề thú vị: Nguyên cớ nào, cơ sở nào khiến La Quán Trung đắp tạo nên diễn ngôn này?

Hãy quay lại hồi 38 truyện TQDN. Hồi này mô tả khởi đầu của một đoạn kỳ sự “quân thần cá nước” giữa Ngọa Long và Lưu Tiên chủ. Trước khi La Quán Trung “nhét” cái diễn ngôn kia vào miệng Khổng Minh, thì ông ta chép lại y nguyên lời của Khổng Minh về “Long Trung đối sách” từ bộ sử Tam Quốc Chí của Trần Thọ, gồm mấy ý chính:

(1) Phân tích tình thế thiên hạ (“Từ khi Đổng Trác phản nghịch đến nay, hào kiệt bốn phương trỗi dậy”),

(2) Đánh giá thực lực quân địch – đồng minh – bản thân (“Nay Tháo đã cầm được quân trăm vạn, mượn tiếng thiên tử để khống chế chư hầu, xem đó thật không thể tranh giành với hắn được. Tôn Quyền giữ đất Giang Đông đã được ba đời, đất đai hiểm trở mà lòng dân lại quy phục, xem thế Giang Đông cũng chỉ dùng để giúp ta, chớ không thôn tính được.”)

và (3) Hoạch định đường hướng phát triển của Thục Hán về sau (chiếm Kinh, Ích, giao hảo với Tôn Quyền, chờ khi thiên hạ có biến sẽ phân binh hai đường: từ Kinh châu ra Uyển, Lạc; từ Hán Trung ra Tần Xuyên, đại phá Trung Nguyên, phục hưng Hán thất).

Đây chính là “Long Trung đối” lừng danh thiên hạ, cũng chính là bản quy hoạch đã xác lập địa lập vị “tổng công trình sư” của Gia Cát Lượng trong tập đoàn Thục Hán. Điều thú vị là, chính từ trong sử liệu Tam Quốc Chí của Trần Thọ, chúng ta tìm thấy những manh mối về “thiên thời”, “địa lợi”, “nhân hòa” – mà rất có thể La Quán Trung đã dựa vào những manh mối đó để hư cấu thêm chi tiết Gia Cát Lượng tặng cho Lưu Bị địa đồ năm mươi bốn châu ở Tây Xuyên, và đưa ra lời khuyên “nhường thiên thời cho Tào Tháo ở phía bắc, nhường địa lợi cho Tôn Quyền ở phía nam, còn tướng quân thì nắm vững lấy nhân hoà” kia.

Đó là những manh mối gì?

3 – Diện mạo lịch sử

Nói về “thiên thời” của họ Tào trước. Có hai người đã nhắc đến khái niệm “thiên thời”, và dành nó cho Tào Tháo.

Người thứ nhất chính là Gia Cát Lượng. Ngay trong đoạn đầu Long Trung đối sách, ông ta chỉ ra nguyên nhân thắng bại ở chiến dịch Quan Độ: “Tào Tháo thế kém Viên Thiệu mà đánh được Thiệu; đó không phải chỉ có THIÊN THỜI mà cũng có MƯU NGƯỜI nữa”, rõ ràng đã nhấn mạnh hai yếu tố: thời cơ và nhân lực, thiên thời và nhân hòa. “Thiên thời” – như Lý Minh Tuấn giải thích lời của Mạnh Tử trong “Tứ Thư bình giải” – chính là “thời cơ”, là những điều kiện thuận lợi ta có được (đối phương yếu đi, nội bộ đối phương chia rẽ…Hứa Du phản Viên Thiệu là ví dụ điển hình). “Mưu người” liên quan đến “nhân lực” và “nhân kiệt”. Có “nhân kiệt” như Quách Gia, Giả Hủ thì mới xuất được kỳ mưu, cũng phải có “nhân lực” như Vu Cấm, Nhạc Tiến để thực hiện kỳ mưu (đốt lương ở Ô Sào); và dĩ nhiên phải có “nhân hòa” để gắn kết trên dưới cùng kiên trì nhẫn nại, gặp nguy không nản gặp khó không sờn, mới có thể đi đến thắng lợi cuối cùng. Chiến trường Quan Độ là một lần tập đoàn Tào Ngụy bộc lộ ưu thế về “nhân hòa” lẫn sự thuận lợi khi có được “thiên thời”.

Người thứ hai cho rằng Tào Tháo có “thiên thời” là Bùi Tùng Chi (Tam Quốc Chí được xưng là “Trần chí Bùi chú” bởi vì họ Bùi đã bổ chú thêm nhiều sử liệu khác và giúp nâng tầm Tam Quốc Chí thành một sử phẩm có giá trị tham khảo cao hơn). Trong Trương Chiêu truyện, Bùi Tùng Chi bàn về Tào Tháo rằng “Tào công cậy THIÊN THỜI mà khởi sự, dùng đạo nghĩa dựng công nghiệp”. Tại sao nói nhờ thiên thời mà Tào Tháo mới khởi sự? Chính do nhà Đông Hán suy yếu, ngoại thích, hoạn quan và sĩ tộc đấu tranh liên miên, rồi “Đổng Trác phản nghịch”, khiến cho “hào kiệt bốn phương trỗi dậy” – bối cảnh đó là họa của Đông Hán, nhưng cũng là phúc của những Tào Tháo, Tôn Kiên, Lữ Bố, Lưu Bị…khi họ có có hội gom góp lực lượng, xây dựng tính chính danh và dần dần từ quân phiệt trở thành chư hầu cát cứ. Chính vì đạo nghĩa đã mục ruỗng, nhân dân đói khổ lầm than vì chiến tranh, nên các quân phiệt mới có cơ hội giương cao lá cờ công nghĩa, “dùng đạo nghĩa để dựng công nghiệp”, hiệu triệu thiên hạ, cùng đuổi hươu Trung Nguyên. Nhìn rộng ra, Đông Hán suy sụp là cơ hội cho tất cả những kẻ lòng mang chí lớn. Nhưng trong số đó, Tào Tháo xuất hiện sớm, lại nhanh tay đón được thiên tử, “mượn tiếng thiên tử để khống chế chư hầu”, ưu thế về “thiên thời” dĩ nhiên là lớn nhất.

Đã có người tin Tào Tháo có “thiên thời”, vậy có ai tin Tôn Quyền có “địa lợi” chăng? Có, đó là Đổng Tập, một trong “thập nhị hổ thần” đất Giang Đông. Trần Thọ thuật lại trong Tam Quốc Chí – Đổng Tập truyện rằng: Tôn Sách chết, Tôn Quyền còn ít tuổi, có người lo lắng, hỏi rằng Giang Đông có thể giữ yên không, Đổng Tập bèn đáp rằng: “Địa thế của Giang Đông, có cái vững bền của núi cao sông dài, mà Thảo nghịch (tức Tôn Sách) là Châu phủ hiền minh, vốn có ân đức ở trong dân. Thảo lỗ (tức Tôn Quyền) kế thừa cơ nghiệp, lớn nhỏ đồng lòng theo mệnh, có Trương Chiêu nắm chính sự, bọn Tập làm nanh vuốt, đây là lúc có ĐỊA LỢI NHÂN HÒA vậy, vạn điều không có gì phải lo lắng”.

Lời của Đổng Tập mặc dù có một phần mang tính động viên, khích lệ tinh thần (ca ngợi “ân đức” của Tôn Sách – dù Sách trước đó giết sĩ tộc Giang Đông như rạ, kết oán không ít); nhưng phần lớn đều dựa trên sự thực, đó là quả thật Đông Ngô có “địa lợi” (“núi cao sông dài”) và “nhân hòa” (“lớn nhỏ đồng lòng theo mệnh”). Bảy năm sau lời nhận định của Đổng Tập, Gia Cát Lượng cũng có ý kiến tương tự: “Tôn Quyền giữ đất Giang Đông đã được ba đời, đất đai hiểm trở mà lòng dân lại quy phục”, chẳng phải đã nhấn mạnh: Đông Ngô có thiên hiểm che chở, lại đã qua ba đời minh chủ làm tốt việc cai trị, cho nên lòng người hướng về, không có mâu thuẫn nội bộ đấy sao?

Ngụy quả thật đã có “thiên thời”, hơn nữa còn có “nhân kiệt”, “nhân lực”, “nhân hòa”, cũng không thiếu “địa lợi”. Ngô cũng có “nhân hòa”, có “địa lợi” (Ngô có “thiên thời” hay không là một vấn đề phức tạp, xin bàn ở một bài khác. Nhưng Tôn Quyền xưng đế muộn nhất trong ba nước là một vấn đề đáng để suy ngẫm). Vậy thì trong Tam Quốc Chí, có ai tin rằng Thục có “nhân hòa” hay chăng?

Câu trả lời là: Đã thử tìm mỏi mắt trong các sử liệu rồi mà không thấy, chỉ có La Quán Trung hư cấu nên phương châm chiến lược “nắm vững lấy nhân hòa” và đặt nó vào miệng Gia Cát Lượng mà thôi. Nhưng La Quán Trung cũng không cần thiết phải nhận được sự gợi ý từ sử liệu nào cả, khi mà chính lãnh tụ nhà Thục Lưu Huyền Đức ngay từ đầu đã luôn giương cao lá cờ nhân nghĩa. Ông ta từng tuyên bố “Tháo cấp bách, ta khoan hòa; Tháo tàn bạo, ta nhân từ; Tháo quỷ quyệt, ta trung hậu; mọi thứ đều ngược với Tháo”, chẳng phải đã xác lập định hướng tuyên truyền cho tập đoàn Thục Hán là khoan hòa, nhân từ, trung hậu đấy sao? Mà mục đích của khoan hòa, nhân từ, trung hậu còn để làm gì ngoài việc thu phục nhân tâm, đạt được “nhân hòa” nữa?

4 –Lời Kết

Dịch Trung Thiên cho rằng, nhiều sự kiện và nhân vậy lịch sử đều có ba bộ mặt: “Hình tượng văn học”, “Hình tượng lịch sử” và “Hình tượng dân gian”. Thời đại Tam quốc đem lại vô số dẫn chứng cho ba loại hình tượng này. Chẳng hạn, “hình tượng văn học” của Quan Vũ được khen ngợi, ca tụng lên cao bao nhiêu, thì giờ đây, cùng với sự xuất hiện nhiều hơn của các sử liệu thời Tam quốc, “hình tượng lịch sử” của Quan nhị gia dần dần có xu hướng bị chê bai, trêu chọc, thậm chí phủ định sạch sẽ những mặt tích cực. “Hình tượng dân gian” của ông ta lại có chút…kỳ cục, khi không người ta là võ tướng thì dân gian lại thờ Quan nhị gia làm…ông tổ nghề thợ cạo, hoặc thần tài (lan quyên?).

Chuyện “thiên thời địa lợi nhân hòa” này cũng vậy. “Diễn ngôn văn học” của La Quán Trung ban đầu là một lời khuyên của Khổng Minh dành cho Lưu Bị “nhường thiên thời cho Tào, nhường địa lợi cho Tôn Quyền, còn tướng quân thì nắm vững lấy nhân hoà”. Dần dần trong quá trình Tam quốc hòa nhập vào các thảo luận bình dân, đã biến thành “Diễn ngôn dân gian” rằng “Ngụy có thiên thời, Ngô có địa lợi, Thục có nhân hòa”. Bài viết này chỉ ra một số “Diễn ngôn lịch sử” có liên quan khác, cũng coi như góp vui một chút cho những người quan tâm đến Tam quốc vậy.

luandamtq

Avatar of Chim Én
 | Website

Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội

Leave a Reply