Views: 53
Arthur Schopenhauer – một triết gia lớn người Đức, sinh ngày 22 tháng 02 năm 1788 tại Danzig, nước Phổ, nay là Gdansk, Ba Lan.
Tuổi thơ ông ít được mẹ quan tâm. Năm Arthur Schopenhauer 15 tuổi, cha ông tự tử, để lại cho ông một khối lượng gia tài thừa kế khổng lồ, nhưng điều đó không làm ông vui vẻ hơn chút nào. Sau này, ông trở thành triết gia bi quan nhất lịch sử triết học, người đã viết rằng: “Ngay từ khi tôi mới chỉ là một đứa trẻ 6 tuổi, cha mẹ tôi, một hôm đi dạo buổi tối về, thấy tôi tuyệt vọng sâu sắc”.
Arthur Schopenhauer cho rằng từ năm cha chết, ông đã thấu hiểu được bể khổ ở đời, giống như Phật tổ ngày trẻ khi chứng kiến nỗi đau, tuổi già, bệnh tật và cái chết. Thậm chí ông còn cho rằng thế giới này được tạo ra bởi một con quỷ, tạo ra sự sống để chứng kiến vạn vật đau khổ mà lấy làm vui.
Arthur Schopenhauer dạy học
Ông từng nghiên cứu tại Đại học Gottingen, sau đó là Đại học Berlin. Nơi đây, Schopenhauer cố tình mở lớp dạy trùng với thời gian Hegel (một triết gia nổi tiếng đương thời) để cạnh tranh. Kết quả là, lớp của Hegel ở tòa nhà bên chật kín với 300 người, trong khi lớp của Schopenhauer chỉ vỏn vẹn 5 người theo học.
Arthur Schopenhauer luôn bị từ chối trong cuộc sống
Arthur Schopenhauer thường bị từ chối ở những bữa tiệc, cộng thêm sự lạnh nhạt và coi thường của mẹ ông, khi Goethe, một nhà thơ lỗi lạc của nước Đức, nhận xét Schopenhauer là thiên tài, bà cho rằng không thể có hai thiên tài trong cùng một căn nhà, ý nói con bà không có tài cán gì. Và đỉnh điểm là khi ông tham dự một buổi tiệc trên thuyền, để ý đến Flora Weiss, một cô gái xinh đẹp 17 tuổi, ông mời cô một chùm nho trắng nhưng cô cảm thấy ghê người và thả xuống sông. Vì mối quan hệ không tốt với mẹ, cộng với nhiều lần bị từ chối giao thiệp, khiến ông có thành kiến khá nặng nề với phụ nữ. “Chỉ có những người đàn ông bị che phủ với ham muốn tình dục mới gọi những con người bé nhỏ, vai hẹp, hông rộng và chân ngắn là phái đẹp”.
Arthur Schopenhauer sống cô độc
Arthur Schopenhauer sống một cuộc đời an nhàn và cô độc trong một căn hộ tại Frankfurt am Main. Ông nuôi một con chó poodle tên là Atman, tức “linh hồn thế giới” (ở đây Schopenhauer đã nhầm lẫn, Brahman mới là “linh hồn thế giới”, Atman là “linh hồn bản thế”) trong tiếng Phạn, do Schopenhauer bị ảnh hưởng bởi Phật giáo.

Cuối đời, ông mới trở nên nổi tiếng với tập tiểu luận “Parerga và Paralipomena”, triết học của ông được đưa vào giảng dạy ở các trường đại học, nhiều bức thư dài thể hiện sự hâm mộ được gửi đến nhà ông, người ở Frankfurt mua loài chó poodle mà Schopenhauer yêu thích để tỏ lòng kính trọng với ông. Nữ điêu khắc gia Elizabeth Ney hâm mộ triết lý của ông, đã đến sống chung với ông trong một tháng để tạc một bức tượng bán thân của Arthur Schopenhauer Trong một tháng đó, ông kể rằng: “Cô ấy làm việc cả ngày ở chỗ tôi. Khi đi ăn trưa về, chúng tôi uống cà phê cùng nhau, chúng tôi ngồi cùng nhau và cảm giác như mình đã kết hôn”. Vì thế, quan điểm về phụ nữ của ông cũng thay đổi, từ chỗ coi họ như những đứa trẻ to xác đến công nhận rằng họ có suy nghĩ sâu sắc và biết sống vì người khác.
Tác phẩm của Arthur Schopenhauer
Một ngày Thu năm 1860, một người bạn đến thăm thấy Arthur Schopenhauer đang ngồi trên ghế sofa và đã ra đi mãi mãi, sau một cơn suy hô hấp nặng.
Ở Việt Nam, Arthur Schopenhauer đến với công chúng qua tác phẩm “Siêu hình tình yêu, Siêu hình sự chết”, thực chất là một phần phụ lục cho cuốn “The World as Will and Representation” (Thế giới như là Ý dục và Biểu tượng). Nội dung tác phẩm tóm tắt khá đầy đủ những ý tưởng chính của ông, như một sự tổng kết ngắn gọn những luận điểm đã triển khai trong cuốn sách trên. Trung tâm hệ thống triết học của Arthur Schopenhauer là học thuyết về Ý chí (Will), được hiểu là căn nguyên tồn tại sâu xa của thế giới. Ý chí được biểu hiện ở hai phương diện: một là, Ý chí là cơ sở cho sự sống, nên được gọi là Ý chí sống; hai là, Ý chí là động lực cho sự sinh sản, duy trì nòi giống không chỉ con người, mà của cả sự sống trong thế giới.
“Thế giới là ý tưởng của tôi” (World is my idea), mệnh đề đầu tiên được Arthur Schopenhauer viết ra để khởi đầu cho tác phẩm “The World as Will and Representation”, và từ quan điểm này, có thể thấy rõ sự ảnh hưởng (như chính ông tự nhận) từ Kant, Plato và triết học Ấn Độ giáo đến triết học của ông. Triết học Ấn Độ giáo coi các sự vật trong thế giới không có bản chất tự thân, sự phân biệt chỉ là mây mờ ảo ảnh, thực chất mọi vật đều có nguồn gốc từ Brahman.

Plato coi thế giới đang sống là thế giới cảm tính, biến đổi, không thực tồn, và bản chất thế giới là cõi biểu tượng (world of form) vĩnh hằng, bất biến và không thể nhận biết trực tiếp bằng giác quan. Còn Kant nói rằng thế giới chỉ là “thế giới như ta thấy”, tức thế giới này cũng không thực tồn mà chỉ là hiện tượng được tri nhận trong giới hạn các quan năng nhận thức của con người, và để tập trung giải thích khả năng nhận thức, ông tạm đặt thuật ngữ “vật tự thân” giả định (chỉ có vai trò phương pháp, Kant không bàn đến bản chất tự thân nằm ngoài nhận thức).
Arthur Schopenhauer quyết định đi xa hơn, tiếp nối Kant ở chỗ luận giải “vật tự thân” như là nguyên nhân tồn tại đích thực của thế giới và gọi nó là Ý chí, nói cách khác, Ý chí là cơ sở và nguyên nhân tồn tại của thế giới. Và vì thế giới chỉ là “ý tưởng của tôi”, nên không gian, thời gian, nhân quả cũng chỉ là thuộc tính của nhận thức con người gán cho thế giới mà thôi. Như vậy, Arthur Schopenhauer đi đến mệnh đề thứ hai: “Thế giới là Ý chí” (World is Will).
>> Đọc thêm : Immanuel Kant – Chủ thể nhận thức trong triết học
Vì “thế giới là Ý chí”, nên thế giới mà ta đang sống chỉ sự phản chiếu, là hình thức thể hiện của Ý chí, nói cách khác, Ý chí là bản chất, còn thế giới là hiện tượng thể hiện bên ngoài. Arthur Schopenhauer xem xét cơ thể con người, với tư cách là một phần của thế giới, trên hai phương diện: một là, cơ thể phân biệt với nhau là hệ quả của sự khách thể hóa của Ý chí theo nguyên tắc cá thể hóa; hai là, sự vận động của cơ thể trong quan hệ không gian, thời gian và nhân quả bị chi phối bởi xung lực đến từ Ý chí. Vì cơ thể chỉ là hiện tượng của Ý chí, nên nó không tự phát sinh vận động, mà bị chi phối bởi Ý chí.
Chính điều này giải thích cho những ý tưởng bất chợt, những hành động bột phát, nói chung những gì nằm ngoài mệnh lệnh của lý trí, là do bị thôi thúc bởi Ý chí sâu thẳm. Kể cả cái tôi của con người cùng với những nhu cầu, ham muốn của nó, cũng không điều khiển sự vận động của cơ thể, đơn giản nó không gì hơn cái biểu hiện tự thân của Ý chí mà thôi. Và vì sự khách thể hóa của Ý chí dưới dạng cơ thể con người không toàn vẹn mà phân biệt thành từng cá thể, như trong Ấn Độ giáo gọi là Brahman tách thành Atman, trong Phật giáo gọi là chấp ngã, nên con người tự huyễn hoặc, khiến bản thân ảo tưởng rằng mình đang cầm trịch, nhưng thực chất là bị kéo lê về phía trước. Ta tưởng rằng mình đang tự quyết cuộc đời ta bằng lý tính, nhưng thực chất, chính lý trí lại đang phục tùng Ý chí như một chủ nhân mù lòa, không hề có tự do, mà luôn luôn phải vâng phục mệnh lệnh Ý chí truyền xuống.
Việc luận giải về cơ thể con người, liên hệ tới bản chất, có thể xem như là chìa khóa khai mở sự giải thích về thế giới. Từ cơ thể con người, Arthur Schopenhauer nhìn ra thế giới, biết rằng đó cũng là sự khách thể hóa phân mảnh của Ý chí. Tự nhiên phát triển từ vô cơ đến hữu cơ, từ sinh vật đơn bào tiến hóa thành con người, với những cấp độ vận động thấp nhất như vận động cơ học đến cấp độ vận động cao nhất như vận động xã hội. Trong quá trình ấy, nhu cầu cần thiết nuôi sống cơ thể, nhu cầu sinh sản, nói chung là sự muốn cũng đều là một với chính Ý chí. Đời sống con người, với tình yêu và nhu cầu sinh sản, với muốn sống và sợ chết, với mọi sự vận động trong thế giới cũng không gì khác ngoài Ý chí đang tự biên tự diễn trong quan hệ không – thời gian và nhân quả. Sức mạnh của Ý chí ở khắp mọi nơi, nó khiến vạn vật sinh ra, lớn lên và chết đi, khiến vật chất thu hút nhau tạo dựng nên thế giới này.
————
Theo Philosapien
Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội







