Views: 500
Dazai Osamu (1909-1948) là một trong những nhà văn hiện đại đầu tiên của Nhật Bản có tác phẩm được dịch ra ở phương Tây sớm nhất kể từ sau thời kì chấm dứt chiến tranh Thế giới thứ hai. Ông trở thành tác gia nổi tiếng và nhận được sự yêu mến nồng nhiệt của độc giả trong và ngoài nước bởi lối tư duy khác lạ trong cả cách sống cũng như trong sự nghiệp viết văn của ông.
Dazai Osamu đã thực sự gây ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc khi phản ánh một cách trực tiếp, chính xác và chân thực tâm thức của một bộ phận người dân Nhật Bản khi là kẻ bại trận và phải đầu hàng vô điều kiện trong chiến tranh thế giới lần thứ 2.
>> Đọc thêm : Một số nhà văn Nhật Bản có tác phẩm xuất bản tại Việt Nam
Đó là nỗi buồn u uất, là sự cô độc, là tâm trạng hoang mang, sợ hãi tột độ, là sự đổ vỡ niềm tin vào tất cả của một dân tộc vốn đầy kiêu hùng và luôn tự hào là hậu duệ của thần Mặt Trời – Xứ sở Phù Tang. Dazai Osamu đã cho thấy một hình ảnh khác về Nhật Bản mà trước đó và đương thời với ông chưa ai đề cập trong văn chương.
Tiểu sử Dazai Osamu

Dazai Osamu xuất thân từ một gia đình đại địa chủ ở vùng Nagaki, phía đông bắc Tsugaru, quận Aomori nước Nhật Bản. Cha ông là một quan chức cao cấp trong chính phủ và mẹ là một quý tộc tinh hoa nhưng Tsushima Shuuji (tên thật của Dazai Osamu) người con thứ mười trong gia đình có mười một người con.
Dazai Osamu đã sớm muốn rời bỏ gia đình và không lấy gì làm tự hào về thân phận quý tộc ấy, ông cảm thấy ngột ngạt, mệt mỏi khi phải sống trong sự giáo dục truyền thống quá hà khắc, lại luôn mang trong mình sự hồ nghi về thân phận của chính mình. Dazai Osamu có cảm giác rằng mình không phải là con đẻ của gia đình Tsushima Gen’emon và Tane bởi ngay từ khi còn rất nhỏ ông đã thấy cách đối xử của mọi người với mình không giống với các anh em trai trong nhà. Điều ấy cứ ám ảnh Osamu mãi cộng với thể trạng ốm yếu đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc đời Dazai Osamu sau này.
Khi ông học tại trường Đại học Đế quốc Tokyo, Dazai Osamu đã từng tự tử vì cảm thấy xấu hổ với những người bạn bình dân vì danh vị quý tộc của mình, bởi lẽ Osamu nhận ra rằng vật chất, địa vị chính là cái khiến con người xa cách nhau và không thể thân thiết thật sự.
Chính vì thế ông đã tham gia vào phe cánh tả – giai cấp vô sản, cùng các bạn xuống đường đòi quyền lợi cho người nghèo. Đồng thời kêu gọi mọi người hãy vứt bỏ tất cả để được sống bình đẳng và chan hòa với nhau, thay vì trở thành Chúa đất (King of land) hãy trở thành Vua của những trái tim (King of hearts).
Nhưng càng thức tỉnh, càng đấu tranh Dazai Osamu càng cảm thấy mình không thể hiểu được con người, thấy mất niềm tin vào tất cả cùng với những áp lực từ gia đình, nhất là người cha và người anh cả. Ông thấy hoang mang và lo sợ rồi dẫn đến bế tắc, sa đọa vào rượu cồn, thuốc phiện, phụ nữ, việc học hành dang dở, buộc phải kết hôn với người mình không yêu, chứng kiến sự phản bội của người vợ và những cảnh đau lòng liên tiếp xảy ra.
Dazai Osamu – một tâm hồn yếu đuối đã cố gắng tự tử đến năm lần và lần thứ năm thì đoạt được ý nguyện. Tất cả những thăng trầm, bi hài trong cuộc đời đã được thể hiện sắc nét trong tác phẩm của ông.
Các tác phẩm của Dazai Osamu
Ngay từ những sáng tác đầu tay từ khi mới mười sáu tuổi cho đến những tác phẩm cuối đời Osamu đã thể hiện một cái nhìn khác, một sự nhận thức khác về con người: con người là bất khả lí giải và tất cả con người đều như nhau, mọi người chỉ thực sự bình đẳng khi biết vứt bỏ tất cả, đặc biệt tư tưởng con người được sinh ra vì tình yêu và cách mạng; hay nhân gian là cõi A tỳ địa ngục và mỗi người phải nỗ lực để vượt qua nó; và chiến tranh Nhật Bản là một sự liều lĩnh tuyệt vọng.
Là thế hệ sau và vô cùng ngưỡng mộ tài năng, phong cách của các nhà văn tiền bối đã rất nổi tiếng như Akutagawa Ryunosuke, Natsume Soseki song với khí chất nghệ thuật và lòng ham mê tìm kiếm cái mới lạ công với sự hiểu biết và đặc biệt yêu thích văn học Pháp, Nga và trường phái tranh Ấn tượng Châu Âu nên Dazai Osamu đã chọn cho mình một hướng đi riêng – một hướng đi hoàn toàn khác với truyền thống, đối nghịch với những gì các nhà văn khác đang làm.
>> Đọc thêm : Giải thưởng văn học Akutagawa
Cũng chính từ đây độc giả có cơ hội khám phá được phần ẩn giấu bên trong tâm hồn sâu thẳm nhất của người dân Nhật Bản, từ đó có thể thấu hiểu và lí giải được những mâu thuẫn, những điều tưởng chừng như đối lập vẫn luôn hiện tồn trong mỗi con người của đất nước này.
Giáo sư Phyllis I.Lyons từng nhận xét:
“Không giống như Kawabata và Mishima – hai nhà văn đã quen thuộc với độc giả phương Tây, Dazai Osamu không viết những câu chuyện biểu lộ thái độ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, đồng tính nữ, hay người thầy tu thất trí vì vương vấn tình cảm với một cô geisha hoặc viết về một người đàn ông lớn tuổi nhưng thích ngắm nhìn các cô gái đẹp ngủ mê.
Dazai viết về những con người rất thực, đang cố gắng hiểu và làm thế nào đó để hòa hợp với thế giới, có thể yêu thương người khác và không làm họ bị tổn thương. Dazaithực sự có nhiều điểm tương đồng với hai nhà văn nổi tiếng của Mỹ là J.D.Salinger và F.Scott Fitzgerald”.
Dazai Osamu xuất hiện và nổi lên như một hình ảnh khác lạ đặc biệt trong văn học Nhật Bản hiện đại. Và sự khác lạ đó, được bảo chứng bằng chính cuộc đời và văn nghiệp của Dazai Osamu. Lấy cảm hứng và xem việc sáng tác văn chương là niềm an ủi, giúp mình thoát khỏi thực tại đau thương, thoát khỏi một cuộc đời mà ông đã từng phải thốt lên rằng: “Tôi đã sống một cuộc đời đầy hổ thẹn” (Trích Thất lạc cõi người, Hoàng Long dịch. )

Mỗi tác phẩm của Dazai Osamu từ truyện ngắn cho đến tiểu thuyết đều được tạo nên chính từ những mảnh ghép trong cuộc đời của tác giả. Và được kể lại dưới hình thức tự thuật truyền thống trong văn học Nhật Bản từ thời Taisho Watakushi-Shishosetsu với một giọng văn hài hước tự trào, thành thực và tinh tế đến bất ngờ.
Cái tài tình của Dazai Osamu là tuy nhân vật và nhiều tình tiết được lấy nguyên mẫu từ chính cuộc đời của tác giả nhưng khi kể lại, bằng việc hư cấu thêm một số chi tiết cùng với việc hoán đổi bất ngờ các tình tiết, Osamu đã khiến cho người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác với nụ cười hóm hỉnh và lời kể thản nhiên, với sự hóa thân, nhập vai tài tình, đầy tâm lý của mình.
Xuyên suốt gần ba mươi tác phẩm của mình từ Xe lửa (tác phẩm đầu tay viết năm 1933 với bút danh Dazai Osamu) đến Nữ sinh, Người vợ của Villon, Truyện kể thần tiên, Một trăm cảnh núi Phú Sĩ, Tám cảnh sắc Tokyo, Chạy nhanh lên, Merosu!…cho đến Vĩnh biệt, đặc biệt là qua hai tiểu thuyết nổi tiếng Tà dương (1947) và Thất lạc cõi người (1948), Osamu đã thể hiện sự vỡ mộng của một thế hệ thanh niên, trí thức qua sự suy tàn của chính gia đình mình – một gia đình quý tộc trong buổi “chiều tà”, qua chính cuộc đời đầy đau thương, trụy lạc của tác giả.
Tất cả đã trở thành biểu tượng mạnh mẽ nhất cho sự sụp đổ của giai cấp phong kiến và cũng như sự đổ vỡ, suy vi của xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ. Đó là buổi hoàng hôn của sinh mệnh, buổi hoàng hôn của nhân loại và buổi hoàng hôn của nghệ thuật.
Đó cũng là tâm trạng biết mình thua cuộc mà vẫn nỗ lực cố gắng để vượt thoát, vẫn đấu tranh đến cùng để dành lấy sự sống, tự nguyện trở thành những nạn nhân cao quý. Hơn hết tất cả Dazai Osamu muốn nói về nỗi cô độc tuyệt đối của con người vì con người là bất khả lí giải và “không có gì khó chấp nhận bằng chấp nhận sự thật” vì thế trên hành trình tìm kiếm sự thật, hãy sẵn sàng với những điều không ngờ tới, bởi để tìm ra sự thật rất khó và càng khó hơn để chấp nhận sự thật đó, cũng chính vì luôn muốn tìm kiếm sự thật và luôn sống với sự thật mà Osamu đã có một cuộc đời vùi mình trong đau thương, dằn vặt, văn nghiệp trắc trở muôn đường.
Xuất phát từ những nguyên nhân thời đại và nội tại trên mà cũng có không ít ý kiến cho rằng, Osamu có nhiều điểm tương đồng cả về cuộc đời và nội dung đề cập trong tác phẩm với kịch gia hiện đại Henrik Ibsen– cha đẻ của kịch nghệ hiện đại Na Uy, khi Henrik Ibsen cũng xuất thân từ một gia đình thương gia khá giả trong vùng.
Ông là hậu duệ của một trong những gia đình lâu đời và đặc biệt nhất ở Na Uy. Sau khi ông sinh ra, do hoàn cảnh tài chính của gia đình xuống dốc. Mẹ ông thì tìm đến tôn giáo trong khi cha ông trải qua những cuộc khủng hoảng nặng nề. Các nhân vật trong kịch của Ibsen thường phản ánh cha mẹ ông, và nội dung các vở kịch của ông cũng thường đề cập đến các vấn đề về khó khăn tài chính hay những cuộc đấu tranh nội tâm xuất phát từ những bí mất riêng tư bị giấu khỏi xã hội. Không ngạc nhiên khi trong các bức ảnh của Ibsen chỉ có duy nhất một bức ảnh ông nở nụ cười.
Dazai Osamu đã ra đi cách đây hơn nửa thế kỉ nhưng dư âm của ông vẫn còn mãi. Bởi cuộc đời của ông đã hóa thành huyền thoại, bởi những tư tưởng tình cảm chân thực và tinh tế sâu sắc nhất trong mỗi tác phẩm của ông.
Và bởi cuộc sống không chỉ là quãng thời gian ta đã sống, đã tồn tại, mà còn là những gì ta sẽ để lại dấu ấn trong cuộc đời của này. Dazai Osamu đã ra đi như một thế hệ tiên phong khi hi sinh cả cuộc đời mình như một nạn nhân cao quý trong một xã hội mà truyền thống đạo đức và tâm linh đều tan rã.

Hình ảnh những con người với cuộc đời bi thương tuyệt vọng khiến người ta liên tưởng đến bức tranh Tiếng thét (The Scream) của hoạ sĩ người Na Uy là Eward Munch đến bây giờ vẫn còn được hiện diện như một thông điệp đầy bí ẩn, trừu tượng nhưng cũng cụ thể, đơn giản đủ để người ta có thể “cảm” được, và điều quan trọng hơn hết để nó được trưng bày trong bảo tàng danh giá nhất với tư cách là một bức tranh giá trị nhất của mọi thời đại có lẽ bởi vì đúng như cái tên của nó Tiếng thét với hình ảnh một người đang lấy hai tay ôm đầu và miệng há kinh hoàng trên nền trời nhuộm màu máu.
Bức tranh khiến người ta hình dung rằng con người kì lạ đó đang gào thét hay đang run sợ khi nghe tiếng gào thét; nếu thế thì đó là tiếng gào thét của con người hay thiên nhiên? Lí giải theo cách nào đi nữa thì bức tranh cũng toát lên sự bi đát, tuyệt vọng của con người, một trạng thái cảm xúc chắc hẳn không thể chưa một lần trải qua trong cuộc đời mỗi người, và nhìn vào đó người ta thấy khắc khoải một nỗi “lo âu hiện sinh” thường trực như ám ánh, như bám riết lấy con người một cách siêu hình. Và dường như ta cũng thấy như đâu đó có tiếng thét kinh hoàng trong mỗi tác phẩm của Dazai Osamu.
Hay như nhà nghiên cứu F.Lyons đã so sánh một cách hình ảnh rằng:
Tiếng kêu tuyệt vọng của Osamu trong xã hội Nhật Bản lúc đó tựa như tiếng kêu của tuyệt vọng của một con sói hoang trong đêm bị lạc bầy đàn.
Dazai Osamu và Vô lại phái
Kết thúc chiến tranh Thế giới thứ hai, nước Nhật chỉ còn lại cảnh tượng đổ nát, hoang tàn. Dù đau đớn vô cùng nhưng với tinh thần, ý chí nghị lực mạnh mẽ vốn được xem như “thuộc tính” của nhân dân Nhật Bản, người dân đã gắng gượng đứng dậy, tìm kiếm tất cả những gì còn sót lại sau thảm cảnh ấy nhằm hi vọng phục hồi, tạo dựng một cuộc sống mới.

Hòa cùng bầu không khí chung của xã hội bấy giờ cùng với những ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn học Tây phương, nhất là tư tưởng của Chủ nghĩa hiện sinh, văn học Nhật đã có những hướng tiếp cận khác nhau để phản ánh hiện trạng, tình cảnh nước mình một cách trung thực nhất. Nổi bật lên là hai khuynh hướng chính gần như đối lập: một bên tiếp tục tìm kiếm, hồi sinh, ca ngợi những nét đẹp, những giá trị truyền thống Nhật Bản cổ xưa với đại diện tiêu biểu là những nhà văn lão thành như Kawabata Yasunari, Yokomitsu Riichi, Tanizaki Jun’ichirô…; ngược lại một bên nhất quyết đoạn tuyệt với truyền thống, đoạn tuyệt với quá khứ mà chủ soái là Dazai Osamu với việc thành lập tư trào văn học mới: Vô lại phái.
>> Đọc thêm : Kawabata Yasunari – Cuộc đời và tác phẩm
Đây là trào lưu văn học xuất hiện sớm nhất và có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất đến quần chúng Nhật Bản lúc bấy giờ bởi nó đã phản ánh chính xác và chân thực nhất tâm thức của người dân một đất nước thất trận.
Vô lại phái (無頼派, Burai-ha) ra đời trên cơ sở sự ý thức sâu sắc bối cảnh lịch sử xã hội nước Nhật là một nước bại trận trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 do đi lầm đường, khiến nhân dân chịu chết trong cảnh khốn cùng. Trật tự xã hội, kinh tế, chính trị hỗn loạn, các tệ nạn trộm cắp, nghiện ngập, dùng mọi thủ đoạn để mưu sinh… đã khiến nước Nhật như biến thành “gương mặt kẻ khác”.
Chuẩn mực truyền thống gắn với Thiên hoàng – người được cả nước Nhật tôn sùng, quy phục và hết sức tự hào nay bị nghi ngờ và phá vỡ. Con người rơi vào khủng hoảng, chán chường, vô cảm và tuyệt vọng. Hàng loạt các vấn đề về nhân sinh được đặt ra và nước Nhật cần tiến hành một cuộc cách mạng đạo đức, vấn đề con người cá nhân, tình trạng chủ nghĩa cấm dục cực đoan chìm đắm trong tư tưởng suy đồi, bi quan. Trường phái này có sáu thành viên chính thức, họ tự tìm đến với nhau vì những đồng điệu trong tư tưởng gồm:
- Dazai Osamu (1909-1948)
- Odasaku no Suke (1913-1947)
- Sagakuchi Ango (1906-1955)
- Tamaki Jun (1907- 1965)
- Tanaka Hidemitsu (1913-1949)
- Dan Kazuo (1912-1976).
Cái tên Vô lại phái (Burai-ha) được Dazai Osamu đề xuất lần đầu tiên trong bức thư gửi ân sư Ibuse Masuji (nhà văn “chống bom nguyên tử” xuất sắc nhất của Nhật Bản thế kỉ XX với tác phẩm nổi tiếng là Mưa đen) vào ngày 15/1/1946 với nội dung: “Bởi tôi là người Vô lại phái nên tôi phải chống lại không khí sau chiến tranh” Và trong một tạp chí (tháng 5/1946) Dazai Osamu lại viết:
“Tôi là người tự do, tôi là người phái Vô lại, tôi phải chống lại những trói buộc. Tôi phải cười vào mặt của những kẻ đeo mặt nạ”
Những phát biểu này được coi như tuyên ngôn đầu tiên của Vô lại phái. Cũng trong thời gian này, hai thành viên của nhóm là Oda Sakunosuke và Ango Sagakuchi nhiều lần nói rằng: Văn học vốn là trò chơi và viết là để tiêu khiển cho quần chúng.
Vì vậy trường phái văn học này còn có tên gọi khác là Tân hí tác phái (新戯作派, Shingesaku-ha) với mục đích khôi phục và nối tiếp truyền thống thể loại kịch Hí tác (gesaku) cũng như thể loại tiểu thuyết thông tục thời Edo – xem việc viết tiểu thuyết để giúp vui cho đại chúng.
Một trong những điều đặc biệt của trào lưu này là được hình thành một cách tự giác từ các nhà văn, những nhà văn có cùng tư tưởng, quan điểm tự tìm đến với nhau.
Và văn đàn gọi những người có những biểu hiện tư tưởng như trên là thuộc phái Vô lại. Tên gọi này được xem như một dụng ngữ chính thức là kể từ năm 1955 khi được đăng trên báo Tin tức đọc sách Nhật Bản với bài phát biểu của Okuno Takeo dưới tựa đề Đánh giá lại về phái Vô lại.
Vô lại (Burai) có nghĩa là không coi phép tắc là gì và không có chốn dung thân. Nhưng có thể hiểu một cách ngắn gọn và khái quát là chống đối, nổi loạn. Với khái niệm này thì Vô lại phái vừa là một trào lưu văn học vừa là một trào lưu tư
tưởng.
Tên gọi Vô lại phái thực tế mang tính tượng trưng, nó không chỉ là phương pháp sáng tác văn học mà còn là thái độ nhân sinh của nhà văn và những hành động chống lại cái bình thường phổ thông đại chúng và như Diệp Vị Cừ trong Lịch sử các trào lưu văn học Nhật Bản đã nhận định:
“Có thể nói trong lịch sử các trào lưu văn học Nhật Bản, phái Vô lại là trào lưu văn học kì dị nhất, đặc biệt nhất” (Trích Lịch sử các trào lưu văn học Nhật Bản – Diệp Vị Cừ – 1997)
Theo dòng thời gian, ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu phê bình quan tâm và tìm hiểu sâu hơn về Vô lại phái. Nhà phê bình Odagiri Hideo đã đính chính lại ý nghĩa của tên gọi Vô lại phái. Ông cho rằng có thể dùng tên gọi “phái chống lại trật tự” để hiểu rõ hơn bản chất của phái này. Vì thực chất đó không phải là suy đồi, vô dụng mà là nổi loạn, phá khỏi những truyền thống thời Thiên hoàng.

Tư trào Vô Lại Phái có ba đặc điểm cơ bản
Điểm thứ nhất
Vô lại phái thể hiện tinh thần phản nghịch, chống đối lại những giá trị và quyền uy của Thiên hoàng, nhằm hi vọng có thể xây dựng lên một xã hội đúng đắn mới. Trong Dã hồ Tanake Hidemitsu viết: “Tự mình thể nghiệm sự tàn ác của xã hội tư bản chủ nghĩa, hi vọng sáng lập nên một xã hội đúng đắn mới. Rằng Thiên hoàng chỉ là một ảo ảnh. Có lẽ chỉ khi Thiên hoàng trở lại thành người thì lịch sử của Thiên hoàng mới thực sự bắt đầu” (Lịch sử các trào lưu văn học Nhật Bản – Diệp Vị Cừ – 1997)
Hay Dazai Osamu đã thốt lên:
“Chúng ta đã bị Đức Thiên Hoàng lừa rồi” (Lịch sử các trào lưu văn học Nhật Bản – Diệp Vị Cừ – 1997).
Trong Luận về trụy lạc Sagakuchi Ango viết: Người Nhật Bản chỉ là một đứa trẻ biết vâng lời. Qua đó phủ định lại tất cả trật tự xã hội, hoài nghi giá trị về bản thân con người, thể hiện cảm giác hư vô.
“Tất cả thế giới đều là sự giả tạo”
“Tư tưởng? Giả. Chủ nghĩa? Giả. Lí tưởng? Giả. Trật tự? Giả. Thành thực?
Giả. Chân lí? Giả. Thuần khiết? Giả.” ” (Lịch sử các trào lưu văn học Nhật Bản – Diệp Vị Cừ – 1997)
Từ đó các nhà văn trong phái đưa ra quan điểm về trụy lạc : chỉ có trụy lạc mới có thể giải thoát khỏi sự trói buộc của luân lý đạo đức cũ. Chỉ có trụy lạc mới phát hiện ra con người thật sự, chỉ có trụy lạc mới khôi phục được bản tính con người. Chỉ có trụy lạc mới khiến con người tỉnh lại và thoát khỏi sự hỗn loạn của chiến tranh và xác lập nên cái tôi mới.Và chủ trương thỏa mãn dục vọng về thể xác để khôi phục lại sự cân bằng tinh thần.
Diệp Vị Cừ nhận định:
“Thực chất cái mà họ gọi là trụy lạc là phải vạch ra sự giả dối của chế độ Thiên hoàng, vạch ra sự giả dối trong xã hội đô thị, vạch ra sự giả dối tồn tại trong trật tự hiện thực. Chủ trương dùng cái tư tưởng trụy lạc để thay thế cái tư tưởng hẹp hòi của xã hội cũ” (Lịch sử các trào lưu văn học Nhật Bản – Diệp Vị Cừ – 1997)
Họ đã tách Thiên hoàng ra khỏi chế độ Thiên hoàng: Thiên hoàng chỉ là một ông vua bù nhìn. Ango Sagakuchi trong Tiếp tục bàn về trụy lạc đã viết:
“Chế độ Thiên hoàng tuy bao trùm lịch sử Nhật bản nhưng sự tôn kính của Thiên hoàng chẳng qua chỉ là một công cụ bị lợi dụng, xưa nay chưa từng tồn tại thực sự bao giờ”.
Đặc điểm thứ hai
Vô lại phái là hướng đến tự do tư tưởng và giải phóng cá tính. Dazai Osamu khi trả lời vấn đề tự do của con người trong đã nói:
“Cái gốc của tư tưởng tự do chính là tinh thần phản kháng, là tư tưởng phá hủy tất cả, là chống lại sự áp chế và ràng buộc đồng thời với sự ra đời của tư tưởng đấu tranh” (Lịch sử các trào lưu văn học Nhật Bản – Diệp Vị Cừ – 1997)
Sở dĩ trường phái này hướng đến tự do thực sự vì sau thảm cảnh của chiến tranh thế giới thứ hai, họ cảm thấy sự tồn tại chỉ là tuyệt vọng, vô ý nghĩa, không còn nhiệt tình, lý tưởng chủ nghĩa. Từ đó nảy sinh cảm giác “cô độc tuyệt đối”. Tôi không còn bất cứ niềm hi vọng nào với thế gian. Ango Sagakuchi trong Quê hương của văn học khẳng định : Bản thân con người và cuộc sống đã mang trong lòng nó sự cô độc tuyệt đối. Hay trong Bình luận văn học ông viết: Nhà văn dù là ai đều là người cô độc.
Điểm thứ ba
Về chủ trương và phong cách sáng tác, Vô lại phái chủ trương phản truyền thống cận đại, tác phẩm phải mang trong mình hơi thở của thời đại – một thời đại đau thương bởi lầm đường. Qua việc phản ánh thế giới tinh thần của con người và những mâu thuẫn trong xã hội Nhật Bản sau chiến tranh theo khuynh hướng phản khuynh hướng hiện thực. Từ đó tự tìm cho mình một con đường riêng, không tuân theo quy tắc cũ.
Từ đây có ý kiến cho rằng: Tác phẩm của Vô lại phái có khuynh hướng của chủ nghĩa Lãng mạn xen chủ nghĩa Hiện thực. Nhưng Diệp Vị Cừ trong Lịch sử các trào lưu văn học Nhật Bản đã phủ nhận điều đó. Ông chỉ ra rằng:
Tác phẩm của Vô lại phái thường không hướng tới cái chân-thiện-mỹ hay miêu tả cái xấu, cái bệnh hoạn rồi thông qua đó để nhận thức thế giới, nhận thức nhân sinh dưới dáng vẻ nghiêm túc và ý nghĩa nhân sinh theo kiểu của chủ nghĩa Hiện thực. Nó chú ý vào cái trào lộng, thô tục, thậm chí xem bản năng vô thức là nguồn gốc của thế giới khách quan.
Nhà phê bình Hasegawa Izumi trong Lịch sử các trào lưu văn học Nhật Bản cận đại đã viết:
“Bản chất văn học của phái Vô lại là đứng trên lập trường chống, Chủ nghĩa Hiện thực, dùng văn học để phản ánh thời đại hỗn loạn của chiến tranh,nó gần với trụy lạc và hư vô” (Lịch sử các trào lưu văn học Nhật Bản – Diệp Vị Cừ – 1997)
“Phái Vô lại bất mãn với hiện thực cho nên xuất phát điểm có thể lí giải được cái tinh thần chống đối của họ. Nhưng họ lại lún sâu vào chủ nghĩa hư vô, thường đứng trên góc độ cá nhân để chống đối, dùng cách trụy lạc để thay đổi hiện thực. Lấy đó làm vũ khí thách thức quan niệm giá trị đạo đức cũ. Đây là sự phản kháng mang tính tiêu cực, không cứu vãn được vận mệnh của con người. Nên hầu hết nhà văn trong trường phái này đã đi từ hư vô, suy đồi, trụy lạc đến hủy diệt cái tự ngã” (Lịch sử các trào lưu văn học Nhật Bản – Diệp Vị Cừ – 1997)
Như vậy từ lúc ra đời, hình thành và phát triển cho đến khi tàn lụi chỉ chưa đầy ba năm (1946-1948) nhưng Vô lại phái đã tạo được tiếng vang lớn, ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến phần đông tầng lớp thanh niên Nhật bấy giờ – những con người cùng mang trong mình những cảm thức thời đại ấy, cảm thức bi quan tuyệt vọng đến cùng cực và muốn chống đối, phá bỏ tất cả.
Các tác phẩm của Dazai Osamu

| Năm |
Tên tiếng Nhật |
Tên tiếng Việt (tạm dịch) |
| 1933 | 思い出 Omoide | Ký ức |
| 1935 | 道化の華 Dōke no Hana | Hoa của thằng hề |
| 1936 | 晩年 Bannen | Vãn niên |
| 1937 | 二十世紀旗手 Nijusseiki Kishu | Tiên phong thế kỉ XX |
| 1939 | 富嶽百景 Fugaku Hyakkei | Một trăm cảnh núi Phú Sĩ |
| 女生徒 Joseito | Nữ sinh (Phương Nam) | |
| 1940 | 女の決闘 Onna no Kettō | Đàn bà quyết đấu |
| 駈込み訴え Kakekomi Uttae | Yêu cầu khẩn thiết | |
| 走れメロス Hashire Merosu | Melos, hãy chạy đi (Quỳnh Chi dịch) Melos ơi, chạy nhanh lên (Văn-Lang Tôn-thất Phương dịch) |
|
| 1941 | 新ハムレット Shin-Hamuretto | Tân Hamlet |
| 1942 | 正義と微笑 Seigi to Bishō | Chính nghĩa và Nụ cười |
| 1943 | 右大臣実朝 Udaijin Sanetomo | Hữu đại thần Sanetomo |
| 1944 | 津軽 Tsugaru | Tsugaru |
| 1945 | パンドラの匣 Pandora no Hako | Chiếc hộp Pandora (NXB Tao Đàn) |
| 新釈諸国噺 Shinshaku Shokoku Banashi | Câu chuyện mới về các quốc gia | |
| 惜別 Sekibetsu | Tích biệt | |
| お伽草紙 Otogizōshi | Chuyện kể dân gian | |
| 1946 | 冬の花火 Fuyu no Hanabi | Pháo hoa mùa đông |
| 1947 | ヴィヨンの妻 Viyon No Tsuma | Người vợ của Villion |
| 斜陽 Shayō | Tà dương (NXB Phương Nam) | |
| 1948 | 如是我聞 Nyozegamon | Chính tai tôi nghe |
| 桜桃 Ōtō | Anh đào | |
| 人間失格 Ningen Shikkaku | Thất lạc cõi người (NXB Phương Nam) | |
| グッド・バイ Guddo-bai | Good-Bye* |
Thất lạc cõi người
Thất lạc cõi người của Osamu vừa mới in ra đã gây nên một hiệu ứng rộng rãi trên đất nước Nhật Bản và giới nghiên cứu phương Tây (Donald Keene đã chuyển ngữ thành công tác phẩm này ngay năm 1950 với nhan đề: No longer human).
Thất lạc cõi người của Osamu thì được xếp vào hàng Văn học xanh (Bungaku Aoi) tức những tác phẩm luôn được yêu thích ở Nhật Bản, với ấn phẩm khổ bỏ túi đã được tái bản đến một trăm bảy mươi tư lần kể từ ngày xuất bản vào năm 1948, tiểu thuyết này đã được chuyển thể thành truyện tranh (trong vòng hai năm từ tháng 8/2007 đến tháng 7/2009 đã được tái bản tới mười hai lần, số sách bán được hơn hai triệu bốn ngàn bản) được dựng thành phim và bản thân cuộc đời của Osamu cũng hóa thành huyền thoại
Thất lạc cõi người với tựa gốc là Nhân gian thất cách mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam gần đây (năm 2011) dưới sự chuyển ngữ của dịch giả Hoàng Long, song cũng gây được những tác động nhất định khi mà độc giả Việt Nam vốn quen thuộc với hình ảnh một Nhật Bản u huyền, đẹp mơ màng với núi Fuji quanh năm tuyết phủ, với những “áng mây hoa đào” tuyệt sắc, mỏng manh; với những bài thơ Tanka, Haiku sâu lắng hay những tác giả mà tên tuổi đã gắn liền với Nhật Bản và không thể không nhắc đến khi nói đến nền văn học hiện đại của xứ sở Phù Tang như: Kawabata Yasunari, Natsume Soseki, Akutagawa Ryunosuke, Mori Ogai, Mishima Yukio, Ôe Kenzabuzô…

Đặc biệt là nhà văn đương đại mà tên tuổi đã trở thành “hiện tượng toàn cầu” Haruki Murakami, việc xuất hiện của Dazai Osamu với những tác phẩm nổi tiếng một thời vẫn tìm được chỗ đứng trong lòng độc giả và vẫn tạo được sức cuốn hút riêng bởi thế giới trong tác phẩm của Osamu là thế giới mà dường như bất kì ai khi đọc đều có một cảm giác thân thuộc lạ thường, nó không phải là cái thế giới đến từ một phương trời xa lạ, mà là thế giới ít nhiều mỗi người đã từng bắt gặp, đã từng trải qua. Một thế giới mà độc giả “cảm” thấy có mình trong đó.
Vì Thất lạc cõi người mới xuất hiện ở Việt Nam, được đón nhận nồng nhiệt, song cũng gặp phải những luồng ý kiến, đánh giá trái chiều, lại trong một thời đại mới, cộng với việc tác phẩm hiện diện như một “câu chuyện kể về quá khứ”.
Trước hết với Thất lạc cõi người, cũng như hầu hết các tác phẩm khác của Dazai Osamu luôn tồn tại hai luồng ý kiến trái ngược nhau. Một bên là đại bộ phận người dân Nhật Bản đều yêu thích vì Osamu đã phản ánh đúng tâm tư, tình cảm của người dân Nhật Bản không chỉ trong giai đoạn hậu chiến mà còn trong cả cuộc sống thường ngày, trong suy nghĩ, trong mối quan hệ giữa mọi người với nhau với một giọng văn vừa chân thực, sâu sắc, tinh tế, vừa hài hước dí dỏm cùng với cách tạo tình huống nhẹ nhàng mà bất ngờ.
Một bên là sự phản đối, chê trách kịch liệt của những “độc giả tinh hoa” với người đứng đầu là Mishima Yukio và Kawabata Yasunari. Kawabata Yasunari khi nằm trong Hội đồng xét duyệt giải thưởng văn học mang tên Akutagawa, đã nhất quyết “loại bỏ” Osamu vì “tác giả phảng phất cái mùi của cuộc sống hạ đẳng” và Mishima Yukio thì nói:
Tôi khinh thường Dazai Osamu vì anh ta đã dám kể một cách trung thực và tỉ mỉ mọi điều về bản thân mình, những điều mà tôi nghĩ nên che giấu.
Tán thành với quan điểm đó, không ít nhà phê bình cho rằng Dazai Osamu chỉ là một con người với một tâm hồn quá yếu đuối, một “chàng quý tộc quá được nuông chiều” dẫn đến sa đọa, trụy lạc và sở dĩ Dazai Osamu có một kết cục như vậy là vì “nhận thức chưa thực sự trưởng thành khi không hiểu được tính hai mặt của con người”.
Chính vì những nhận định này, khiến cho đương thời lúc còn sống con đường văn chương của Dazai Osamu bị trắc trở muôn đường, và không được xếp vào những “danh tác chính thống”. Có thể nói Dazai Osamu chỉ thực sự sống sau khi đã chết, bởi lẽ sự tài hoa và giá trị tác phẩm của Osamu chỉ thực sự được công nhận, hiểu thấu và trân trọng xứng đáng khi ông từ giã cõi đời.
Và người có công đi đầu trong việc “minh giải tư tưởng giá trị tác phẩm” của Dazai Osamu chính là giáo sư Okuno Takeo và đặc biệt là giới nghiên cứu phương Tây: ngay khi “phát hiện” ra Osamu, ngay lập tức họ đã dịch gần hết ba mươi tác phẩm của ông, bởi thấy như đã tìm được một chìa khóa quan trọng để mở cánh cửa rộng lớn bước vào tâm hồn Nhật Bản một cách toàn vẹn nhất, bằng cách chỉ ra và phân tích những “thuộc tính” tiêu biểu nhất, mang đậm dấu ấn văn hóa, tâm hồn Nhật Bản hiện lên sắc nét từ chính cuộc đời Osamu như: bản tính nữ, sự tinh tế, đa sầu đa cảm, yêu và tôn thờ thiên nhiên, không thể sống mà không có cộng đồng, luôn khát khao hòa nhập, đề cao tinh thần đoàn kết đồng thời cũng thể hiện tính tự tôn cao và chính vì thế mà sẵn sàng chịu trách nhiệm trước cuộc đời, trước xã hội.
Ngay cả đến hành vi tự tử của Dazai Osamu cũng xuất phát từ chính “truyền thống tự tử”, từ “văn hóa của cái chết” vốn đã có từ rất lâu đời ở Nhật Bản. Ngày nay, dù Thất lạc cõi người và những tác phẩm khác của Dazai Osamu vẫn được yêu mến và không ngừng được tìm đọc song trong tâm thức của một đất nước luôn đề cao tinh thần Võ sĩ đạo với ý chí, nghị lực là yếu tố tiên quyết thì tác phẩm cũng như lối sống của Dazzi Osamu được xem là có phần quá yếu đuối và mỏng manh quá đỗi. Nên dù đó là một “mặt khác” luôn hiện hữu trong chính con người, tâm hồn Nhật Bản song đó là “khuôn mặt cần ẩn giấu”, cần tiết chế chứ không phải là khuôn mặt cần thể hiện, không phải là “khuôn mặt chính thống”
—————
Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội







