Views: 35
Triết học là gì ? là câu hỏi dấy lên trong đầu những người vừa chập chững bước chân vào con đường tìm hiểu Triết học. Hoặc nhiều khi, một người đã học triết chán chê, có thể là bài bản trong trường ốc, hoặc tự mình ngập ngụa trong đống triết thuyết được những con người xuất chúng tạo dựng trong suốt mấy ngàn năm, chợt cảm thấy rốt cuộc mớ lý thuyết này, dù có một số khía cạnh thực hành, cuối cùng đã giúp mình thay đổi như thế nào, và câu hỏi cũ lại chợt quay về.
Do vậy, cùng một câu hỏi “Triết học là gì?”, rất nhiều người đã dùng góc nhìn của mình về Triết học để trả lời. Một cách nhìn về triết học dành cho mỗi người là cần thiết để chuẩn bị cho chặng đường học triết, hoặc gỡ rối những băn khoăn về triết học sau thời gian dài tìm hiểu, hoặc đơn giản là dùng để phản biện với góc nhìn của riêng mình.
Những định nghĩa của triết học
Thực sự mà nói, chưa có định nghĩa “Triết học” nào được mọi người đồng thuận. Tuy vậy, rất nhiều định nghĩa của “Triết học” đã được đưa ra bởi nhiều triết gia và trường phái khác nhau, mỗi định nghĩa nêu lên một đặc điểm mà họ tin “Triết học” phải có.
Theo Aristotle,
“Triết học là một khoa học khám phá bản chất tự nhiên của các thực thể siêu nhiên”.
Đối với Karl Marx, ta nhớ lại định nghĩa đã trở nên quen thuộc trong các giáo trình về triết học của ông được giảng dạy rộng rãi:
“Triết học là sự giải thích thế giới để thay đổi nó”.
Socrates nói về triết học không như một môn học quá cao siêu, mà như một lẽ thường tình:
“Triết học là một hoạt động thường ngày”.
Không thể không nói về khía cạnh từ nguyên, trong đó ở phương Tây, trong tiếng Hy Lạp, “Philosophia” được kết hợp bởi hai yếu tố “Philo” có nghĩa là tình yêu và “sophia” là sự thông thái. Trong khi đó trong chữ Hán, “triết” có thể được chiết tự thành “chiết” và “khẩu”, mà theo cách chiết tự này, “Triết” mang ý nghĩa là “dùng miệng để mổ xẻ (những sự vật, hiện tượng)”.
Nếu thu thập tất cả những đặc điểm được các triết gia nói đến trong định nghĩa triết học của mình, có vẻ như triết học trở nên một khái niệm bao trùm rất phổ quát, đủ để trở thành nguồn gốc của tất cả những ý tưởng mà con người có thể nghĩ ra và xây dựng sau này. Vì thế, chúng ta không dừng lại ở việc tranh cãi để nhất định phải tìm ra một định nghĩa đúng duy nhất, thay vào đó, chúng ta cần suy nghĩ về tính hợp lý của những định nghĩa về triết học có thể dễ dàng tìm được.
Thứ hai là đặt câu hỏi rằng những hệ tư tưởng phổ biến như Phật giáo, tư tưởng về cách sống của Camus, những tư tưởng của các nhà tư tưởng Việt Nam… có nên được xem là triết học hay không. Cuối cùng là tự hỏi rằng mình có đang yêu thích triết học (hay thứ bạn đang yêu thích, chìm đắm có nên được gọi là triết học), có đang tìm hiểu, tiếp thu chọn lọc những quan điểm triết học và có đang sống theo triết học hay không.
Định nghĩa triết học là gì
Để định nghĩa triết học là gì thì không đơn giản nhưng có thể hiểu triết học là một ngành nghiên cứu có hệ thống về những vấn đề cơ bản và tổng quát liên quan đến các chủ đề như hiện sinh, lý trí, tri thức, giá trị quan, tâm trí và ngôn ngữ. Mổi nhánh đều có những cá nhân kiệt xuất tượng trưng cho nhánh triết học đó.
Các nhánh chính của triết học
+ Tri thức luận: Nghiên cứu về bản chất của tri thức và cách thức để có được tri thức.
+ Luân lý học: Tìm hiểu các nguyên lý đạo đức và những gì cấu thành nên cư xử đúng mực.
+ Logic học: Nghiên cứu về lập luận đúng đắn, khám phá khả năng phân biệt giữa luận cứ tốt hay xấu.
+ Siêu hình học: Xem xét những đặc điểm chung nhất của thực tế, hiện sinh, khách thể và tính chất.

Triết học có mấy trường phái
Triết học có nguồn gốc từ thời cổ đại và đã phát triển qua nhiều nền văn minh khác nhau, bao gồm cả phương Đông và phương Tây. Nên để phân loại triết học thì, người ta chia theo địa lý trên bản đồ gồm :
Triết học phương Tây
+ Hy Lạp cổ đại: Triết học phương Tây bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại, khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN. Từ “triết học” (philosophia) trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “tình yêu đối với sự thông thái”. Nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại Pythagoras được cho là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này.
+ Các triết gia nổi bật: Những triết gia nổi tiếng như Socrates, Plato và Aristotle đã đặt nền móng cho nhiều lĩnh vực triết học, từ đạo đức học, tri thức luận đến siêu hình học.
Triết học phương Tây phân ra nhiều nhánh : triết học hiện sinh, triết học đạo đức, triết học hình học, triết học siêu hình học….
Triết học phương Đông
+ Trung Quốc: Triết học Trung Quốc bắt nguồn từ các tư tưởng của Khổng Tử và Lão Tử. Khổng Tử nhấn mạnh về đạo đức và xã hội, trong khi Lão Tử tập trung vào sự hài hòa với tự nhiên và vô vi (không can thiệp quá mức).
+ Ấn Độ: Triết học Ấn Độ phát triển từ các văn bản Vệ Đà và Upanishad, với các trường phái như Phật giáo và Ấn Độ giáo. Những tư tưởng này tập trung vào sự giác ngộ và bản chất của thực tại.
Một cách nghĩ nhất quán về triết học
Một cách cơ bản nhất, ta có thể thấy rằng, mọi hệ tư tưởng được cho là triết học, cho đến bây giờ, đều là những hệ thống nhất quán về vũ trụ, về con người. Triết học như một phương tiện cung cấp cho người tìm hiểu một cách nghĩ càng ngày càng nhất quán về cuộc sống xung quanh. Thí dụ, bất chợt chúng ta đặt câu hỏi về sự hiện diện của bản thân trên thế giới này, chúng ta lại bắt gặp những câu trả lời khác nhau thuộc về các triết thuyết khác nhau.
Nói về việc có nhất định phải suy nghĩ về các câu hỏi dạng này hay không, thật ra là không thực sự cần thiết. Dù sao đi nữa, chúng ta vẫn trải qua cuộc đời này. Trở về với câu hỏi “Tại sao tôi lại có mặt trên thế giới này?”, ta có thể liệt kê một vài câu trả lời như “sự luân hồi” theo Phật giáo, Hư vô chủ nghĩa lại cho rằng đây không gì khác ngoài một sự trùng hợp. Nói về ý nghĩa cuộc đời, tín đồ Thiên Chúa giáo tin vào một cuộc sống sau sự chết và hết mực sống vì nó; trong khi Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng con người nên tự sáng tạo ra ý nghĩa cho riêng cuộc đời họ. Và rất nhiều câu hỏi nữa, chẳng hạn về sự chết, về đạo đức, về bản chất của sự vật, hiện tượng, ta có thể thấy ngay rằng có thể lục lọi trong Triết học để tham khảo những câu trả lời. Triết học chính là như vậy, chính là tập hợp của vô vàn những dòng tư tưởng nhất quán để chúng ta tìm kiếm, tự suy xét, tự xây dựng cho mình một hệ thống riêng nhất quán (mặc dù không có cũng không sao cả).

Triết học hình thành một phương châm sống
Từ một cách nghĩ nhất quán về những hiện tượng trong cuộc sống, chúng ta hình thành một cách sống riêng biệt mà mình cho là hợp lý. Chúng ta thật lòng thấy tốt cho những người dùng cả cuộc đời mình cho những thành tựu vật chất, những mối quan hệ sâu sắc, hay để đạt được tri thức trong một lĩnh vực khoa học chuyên môn nào đó, vì trong suốt cả đời họ, ít khi họ chợt nhìn lại và cảm thấy lạc lõng, hụt hẫng khi chợt dấy lên câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời.
Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận định rằng: suy cho cùng, trăn trở lớn nhất mà hầu hết mọi người rồi đều sẽ phải trải qua chính là trăn trở hiện sinh, hơn là mưu cầu một cái gì đó gắn liền với thực tế. Vậy nên, rút ra cho mình một “phương châm” sống càng sớm, là tiết kiệm được một khoảng thời gian đáng kể loay hoay giữa cuộc đời, để dồn sự chú tâm vào những công việc có phần thực tế hơn. Càng tốt hơn nữa, sự chú tâm này không dính mắc vào những điều quá thực dụng, mà là một mục đích nội tại, một mặt giúp chúng ta không hụt hẫng khi không đạt được, mặt khác vô tình giúp con đường đi đến những thành tựu thực tế này dễ dàng hơn, khi một con người vững chãi sẽ ít so sánh mình với những người xung quanh về việc đạt được những điều thực tế, qua đó chỉ nhìn thẳng về phía trước.
Thật may rằng triết học là một trong những phương tiện để ta tìm được cách sống ấy. Có một điều chúng ta có thể tạm nhận ra khi tìm hiểu các triết thuyết rằng, khi ngẫm nghĩ đủ lâu, hầu hết các triết gia sẽ tiến về một điểm nào đó gần như ở giữa hai thái cực của hành động: một trạng thái Niết bàn không vui không khổ, một “Golden Mean” của chuẩn mực hành động đối với Aristotle, một thế giới không phải hạnh phúc hay đau khổ, mà đơn giản là vô nghĩa và ta phải tự gán ý nghĩa cho nó theo Camus… Có chăng bằng cách này hay cách khác, người ta khi ngẫm nghĩ đủ lâu, rồi cũng sẽ trở nên tự lập, độc lập, vững chãi giữa cuộc đời này?
Tóm lại triết học là gì ?
Tóm lại, từ việc tự hỏi Triết học là gì ?, chúng ta vô tình trả lời câu hỏi về lợi ích của Triết học. Không tìm hiểu Triết học? Đó thật sự không phải là vấn đề gì cả. Chúng ta vẫn sống, vẫn có một “triết lý” riêng để sống. Chúng ta từng thấy những người chưa bao giờ tìm tòi triết học, vẫn đang tận hưởng cuộc sống của bản thân, và lại thấy những người tìm tòi triết học, nhưng vẫn chưa thể vượt qua những đau khổ thường ngày.

Ở đây ta thấy Nietzsche là ví dụ điển hình nhất. Chúng ta có thể xem cú sốc “suy nhược thần kinh” ở tuổi 44 của ông như là một giọt nước tràn ly, khi qua bao nhiêu trăn trở hiện sinh, thậm chí xây dựng cả một triết thuyết của riêng, vẫn không vượt qua được chính mình để tìm đến niềm hạnh phúc tự thân. Nhưng đã trót bén duyên với Triết, đã cảm thấy sức hút nơi Triết học, tại sao chúng ta không tiếp tục chìm đắm vào nó, dùng chính những trải nghiệm của bản thân để hiểu Triết học. Mong con đường tìm hiểu Triết của những người đã yêu Triết học sẽ luôn ngập tràn sự tò mò, hân hoan.
————–
>> Đọc thêm : Triết học hiện sinh là gì ?
Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội







