banner wece
Xuất thân hiệp khách giang hồ

Xuất thân hiệp khách võ hiệp – Phần 02

Views: 44

Thế giới giang hồ võ hiệp là thế giới của những hiệp khách hành tẩu với tinh thần nghĩa khí. Họ xuất thân rất nhiều tầng lớp, ta cùng điểm qua những hiệp khách xuất thân từ đâu

THÂN THẾ CỦA CÁC HIỆP KHÁCH – DU HIỆP GIANG HỒ
(Phần 02)

>> Thân thế của hiệp khách – du hiệp giang hồ Phần 01

7. Người săn bắt tội phạm (bổ khoái)

Trong tiểu thuyết võ hiệp hiện đại có những nhân vật “bổ khoái” (săn bắt tội phạm) vốn là người ở công môn, nhưng hành sự, xử thế, tình nghĩa, tiết tháo lại không khác gì hiệp khách giang hồ. Với nghề nghiệp đặc thù, với không gian hoạt động độc đáo, với phong cách hành hiệp khác thường, loại nhân vật này đã cấu thành một loại hình quan trọng trong giai tầng võ hiệp.Bổ khoái là một loại sai dịch đảm nhiệm việc bắt tội phạm ở nha môn thời cổ (thời phong kiến), họ cũng được gọi là “bổ dịch”. Đại khái là từ khi có pháp luật để duy trì trật tự xã hội thì bắt đầu có nghề này.

Trong quan niệm thông thường của người ngày nay, loại địa vị thấp kém, loại sai dịch không có phẩm cấp như bổ khoái có lẽ cũng chẳng đáng kể vào đâu. Nhưng trên thực tế, trong xã hội phong kiến dài đằng đẵng, nó là công cụ quan trọng bảo vệ sự thống trị của kẻ cầm quyền.

Không những thế, với tư cách kẻ chấp pháp cụ thể, với tư cách kẻ thừa hành, bản chất của bổ khoái là trợ thủ và là chó săn cho kẻ thống trị phong kiến. Đọc “Khốc lại liệt truyện” trong “Sử ký” của Tư Mã Thiên, có thể hiểu được sự hắc ám, hủ bại, đẫm máu của cơ quan tư pháp thời phong kiến; và từ “thành tích” xử án của bọn “khốc lại” như Đỗ Chu thời Tây Hán ta có thể hình dung được bọn làm nghề bổ khoái xưa nay chẳng hề đếm xỉa đến thị phi thiện ác, công lý nhân quyền.

Sự dã man tàn bạo của chế độ “lại trị” dưới thời phong kiến, sự khắc nghiệt khắt khe của luật pháp khiến cho người ta nghẹt thở; thế là người ta bèn gửi gắm hy vọng vào những ông quan thanh liêm “chấp pháp công bằng”. Trong tiểu thuyết lịch sử công án thời Minh Thanh, quanh những câu chuyện về các ông quan xử án sáng suốt như Bao Chửng, Hải Thụy… không những đã phản ánh một cách trực tiếp và khá hệ thống cuộc đời của các bổ khoái mà còn tạo nên một loạt hình tượng bổ khoái như Hoàng Thiên Bá trong “Thi công án”, Bạch Ngọc Đường, Triển Chiêu trong “Tam Hiệp ngũ nghĩa” (“Tam hiệp ngũ nghĩa” đã được chuyển thể thành phim “Bao Thanh Thiên)v.v…

Thất hiệp ngũ nghĩa - Bao Thanh Thiên
Thất hiệp ngũ nghĩa – Bao Thanh Thiên

Một mặt, là tay sai của kẻ thống trị phong kiến, ở những nhân vật như Hoàng Thiên Bá, Triển Chiêu, Bạch Ngọc Đường đã biểu hiện đầy đủ “nô tính” (tính chất nô bộc), họ dựa vào thân phận “đặc nhiệm” của mình, mặc sức hoành hành, điều này phản ánh bản tính của bổ khoái; mặt khác do họ xuất thân thảo mãng giang hồ lại ở dưới trướng ông quan thanh liêm nên họ lại có ít nhiều khí phách hiệp nghĩa, cũng làm được nhiều việc tốt trừ bạo an lương, hành thiện giúp đời, điều này lại phản ánh nguyện vọng và yêu cầu của nhân dân Trung Quốc. Lỗ Tấn tiên sinh cho rằng tiểu thuyết công án đã đi trước mở đường cho tiểu thuyết hiệp nghĩa (“Trung Quốc tiểu thuyết sử lược”).

Thế nhưng, có sự khác biệt về chất giữa tiểu thuyết võ hiệp tân phái hiện đại với tiểu thuyết công án lịch sử thời Minh Thanh. Hình tượng nhân vật bổ khoái trong tiểu thuyết võ hiệp hiện đại chẳng những nhiều sắc thái đa dạng mà đồng thời còn có gương mặt tinh thần và tư tưởng hoàn toàn mới. Trong tác phẩm của các danh gia tiểu thuyết võ hiệp như Cổ Long, Ôn Thụy An, Tư Mã Linh… một loạt nhân vật bổ khoái sinh động hấp dẫn, vô luận là ở bên ngoài hay trong nội tâm đều khác với những kẻ săn bắt tội phạm nơi nha môn trong đời sống hiện thực lịch sử cam tâm làm nô bộc.

>> Đọc thêm : Cổ Long vui buồn một kiếp nhân sinh

Vậy thì, điều gì khiến cho nhân vật bổ khoái một khi bước vào tiểu thuyết võ hiệp lại tỏa ra sắc thái khác lạ? Trước hết, so với những hiệp khách phóng túng, những “nghĩa đạo” (kẻ cướp có nghĩa) thong dong chốn giang hồ cho đến các tăng ni nương náu chốn cửa Phật… thì bổ khoái lại đóng một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội cổ đại và không thể coi thường sự tồn tại và ảnh hưởng của họ. Thứ hai, bổ khoái tuy thuộc lớp người bình thường trong quần thể xã hội, nhưng công việc thường xuyên của họ – điều tra, phá án, tróc nã tội phạm – lại là công việc không bình thường; một người bình thường lại luôn phải làm công việc không bình thường, những việc siêu phàm tuyệt tục, câu chuyện của họ hẳn phải ly kỳ hấp dẫn.

Lại nữa, các tác giả võ hiệp hiện đại “kết nạp” bổ khoái vào gia tộc võ hiệp một mặt là do nó có cơ sở chân thực: những tay bổ khoái không cam lòng đánh mất nhân tính, bản ngã, trong phạm vi khả năng và điều kiện của mình họ có thể trừ kẻ cuồng bạo, giúp người yếu đuối, làm điều thiện, trừng trị kẻ ác. Một mặt khác bổ khoái lại là người thế tục bình thường, biểu hiện nhân tính của họ càng khiến người ta phải suy nghĩ. Đây cũng là một kho tư liệu phong phú để tác gia khám phá. Đồng thời, chức nghiệp và không gian hoạt động của bổ khoái tuy khác với tính cách và không gian của hiệp khách giang hồ nhưng cũng rất đặc biệt, độc đáo, do đó viết chuyện về họ cũng mở ra những nẻo đường mới, có hiệu quả nghệ thuật mới mẻ, đặc thù.

Tứ Đại Danh Bổ - Ôn Thuỵ An
Tứ Đại Danh Bổ – Ôn Thuỵ An

Cho đến nay trong tiểu thuyết võ hiệp hiện đại, hình tượng bổ khoái có tính đại biểu và có ảnh hưởng nhất phải kể đến bốn đại danh bổ Thiết Thủ, Lãnh Huyết, Truy Mệnh, Vô Tình trong “Loạt tác phẩm Tứ đại danh bổ” của Ôn Thụy An. Những việc làm của bốn người này đều theo qui tắc giang hồ, tuân thủ đạo nghĩa giang hồ, mà khí phách hiệp nghĩa của họ còn cao hơn cả hiệp khách giang hồ. Điều ấy có nghĩa là, họ trước hết là hiệp khách giang hồ rồi mới đến là bổ đầu ở quan trường. Một khi nảy sinh mâu thuẫn thì điều mà họ lựa chọn là cái trước chứ không phải là cái sau.

Sự thực, người trên giang hồ và kẻ thống trị phong kiến vốn đối lập. Hơn nữa, do thời đại ấy quá hắc ám, là bổ khoái ở nha môn, dựa dẫm vào tập đoàn thống trị, muốn làm việc gì theo ý mình cũng khó, thực chất là hầu như họ không thể nhiễm khí vị hiệp khách giang hồ. Nhưng tứ đại danh bổ không những kết bạn thân thiết với nhau theo đạo nghĩa giang hồ mà khi hành sự, phá án đều theo những phép tắc giang hồ. Điều ấy rõ ràng là rất nguy hiểm cũng tất nhiên là gặp phải thách thức và mâu thuẫn từ cả ba phía quan trường, hiệp khách và dân chúng. Họ ở giữa quan trường và giang hồ, làm sao có thể “làm theo ý mình mà không ra khỏi quy củ”? Đấy không những là “trung tâm hứng thú” của tác giả mà cũng là tiêu điểm chú ý của độc giả.

Thế nhưng, mâu thuẫn sẽ đến lúc không thể điều hòa được, bởi vì không thể kiêm nhiệm giang hồ và quan trường, cho nên Thiết Thủ, một trong “tứ đại danh bổ”, cuối cùng đã từ bỏ công việc bổ khoái, mà dứt khoát bước vào giang hồ. (Xem: Ôn Thụy An – “Tứ đại danh bổ hội kinh sư”. “Nghịch thủy hàn”)

– Thiết Thủ không có cách lựa chọn nào khác ư?

Kỳ thực, Thiết Thủ cũng có thể “an phận thủ thường”, làm một “bổ khoái” thực thụ, làm thuê cho tập đoàn thống trị phong kiến, nhưng Thiết Thủ và những người anh em của chàng chưa bao giờ là những bổ khoái thực thụ và cũng chưa hề coi mình là bổ khoái. Bởi vì họ căn bản là không “hạp” với nghể bổ khoái – bổ khoái là chó săn, là nanh vuốt của kẻ thống trị mà họ lại là hào kiệt giang hồ.

8. Thái giám

Hiệp không ở đâu là không có. Có nam hiệp nữ hiệp, đại hiệp thiếu hiệp, thậm chí đến cả ở giống thứ ba – hoạn quan, cũng có khi không thiếu cốt cách hiệp nghĩa. “Cái đẹp tàn khuyết” (“tàn khuyết chi mỹ”) vốn là một phạm trù cơ bản của mỹ học tiểu thuyết võ hiệp. Cao thủ tuyệt đỉnh võ lâm có khi lại là một người mù, thọt chân, gù lưng, mà người có bộ mặt xấu xí lại thường dịu dàng như nước. Tư cách của người hiệp nghĩa, cái chủ yếu không phải là ở sức mạnh thể chất mà là ở sự tự do và mạnh mẽ tâm linh, ở chỗ có năng lực tự vượt qua giới hạn của chính mình. Thân là hoạn quan đôi khi lại từ thân thể tàn tật, địa vị thấp kém của mình mà theo đuổi sự viên mãn của tinh thần và sự cao thượng của nhân cách, như thế họ cũng xứng đáng với chữ “hiệp”.

Chữ “hoạn” trong điển tịch cổ đại còn gọi là “tự nhân”, “yêm nhân”,”trung quan”, “nội quan”, “nội thị”, hoặc thường gọi là “thái giám”. Đó là những người đàn ông làm việc trong cung nhưng lại bị loại bỏ cơ năng giới tính. Thiên “Xa Lân” thuộc “Tần phong” trong “Kinh Thi” viết “Vị kiến thiên tử, tự nhân chi lệnh” (chưa gặp vua, theo lệnh tự nhân). Người phụ trách công việc truyền lệnh này là “tự nhân” không có tên họ, là thái giám của vua Tần. Hoạn quan có ba nguồn gốc: một là tội nhân bị xử cung hình, phạt vào cung làm thái giám; hai là bắt con em của dân chúng, phẫu thuật rồi huấn luyện đưa vào cung làm thái giám; ba là có kẻ tự cung (tự thiến mình) vào cung làm thái giám để thực hiện mục đích riêng.

Thời Tây Chu, hoạn quan ở trong cung vua chỉ phụ trách những việc lặt vặt, như đóng mở cửa cung, quét dọn cung điện, truyền đạt lời vua…Từ Xuân Thu Chiến Quốc về sau họ mới can dự vào việc chính trị, có quan chức bổng lộc khá cao, trở thành một lực lượng khá quan trọng trong chính trị truyền thống. Thái giám đời Đường có thể nắm giữ “đại quyền” như đi sứ, chinh chiến, giám quân, phiên trấn, phán xét về án kiện, thậm chí còn chi phối cả hoàng đế và hậu phi. Đường Hiến tông, Đường Kính tông bị thái giám giết chết. Đường Mục tông, Đường Văn tông, Đường Vũ tông, Đường Định tông, Đường Ý tông, Đường Hy tông, Đường Chiêu tông thì lại được hoạn quan lập làm vua. Thời vua Minh Hiến tông, thái giám Uông Trực làm “Đề đốc Tây xưởng” không coi các đại thần trong triều ra gì, dùng thủ đoạn đặc vụ để bức hại những người khác ý mình, làm lòng người khắp kinh đô sợ hãi. Thái giám can dự vào chính trị gây họa ghê gớm không sao kể xiết. Thế nhưng, những người có công với nước tuy ít lại có thể lưu danh sử sách. Hoạn quan trong tiểu thuyết võ hiệp phần nhiều đều có sức mạnh rất lớn, điều này là có căn cứ lịch sử.

Hoạn quan trong tiểu thuyết Kim Dung thường am hiểu võ học một cách sâu sắc, như Hải Đại Phú trong “Lộc Đỉnh ký” có võ công kinh người, còn tác giả của “Quì hoa bảo điển” trong “Tiếu ngạo giang hồ” cũng là một hoạn quan nghiễm nhiên trở thành tông sư võ học. Những điều này chỉ thuần túy là “lời của nhà tiểu thuyết” (ý nói hư cấu). Thái giám trong lịch sử tuy có thể được chỉ huy cấm quân, điều khiển thiên quân vạn mã nhưng về võ thuật thì mù tịt. Thời vua Đường Đại tông, thống suất đội quân bảo vệ kinh đô là thái giám Ngư Triều Ân, tuy tự khoe là “văn võ toàn tài”, kỳ thực thì người mập ú, ngồi trên chiếc xe nhỏ, còn cách xa hàng dặm người ta đã nghe tiếng xe kêu cót két. Con người mà thân thể chậm chạp vụng về như thế há phải là người luyện võ đi lại nhanh nhẹn như gió, nói gì đến chuyện vung đao sử kiếm. Sự thực thì, sau khi bị “phẫu thuật”, hoạn quan dần dần phát phì, thịt mềm nhẽo, sức trói gà không chặt, yếu đuối như đàn bà con nít.

Xưa nay, nhục nhã không gì bằng bị tội cung hình. Làm thân nam nhi, sống chết là việc nhỏ, có giữ được vẹn toàn thân thể để sống trọn cuộc nhân sinh thì mới là điều quan trọng. Kẻ bị dao cưa còn sống sót, mất hết cả tôn nghiêm của con người, bị người đời coi là vật gở. Vệ Linh Công xuất du, để hoạn quan Ung Cừ ngồi cùng xe, mà mời Khổng Tử ngồi cỗ xe thứ hai. Khổng Tử cảm thấy bị sỉ nhục, bèn phất tay áo rời nước Vệ. Cho nên Tư Mã Thiên sau khi bị “cung hình”, “Mỗi khi nghĩ đến điều sỉ nhục ấy, mồ hôi lại ướt đầm lưng áo.” (Tư Mã Thiên vì nói sự thực, bênh vực Lý Lăng, nên bị Hán Vũ đế tức giận, xử tội “cung hình”. Ông đau khổ định tự tử nhưng vì bộ “Sử ký” chưa viết xong nên ông nhẫn nhục sống để hoàn thành tác phẩm của mình. Sau khi bộ “Sử ký” hoàn thành, Tư Mã Thiên qua đời.)

Hoạn quan vẫn cố gắng tiếp tục sống có thể có ba trạng thái: một là nghe trời theo mệnh, đành cam chịu, khuất phục quyền uy tuyệt đối của vua, đem tấm thân hèn mọn mà lấy lòng bề trên, đa số thái giám là như thế; hai là biến thái tâm lý, hết sức tham lam, tàn nhẫn, ngông cuồng, để thỏa mãn lòng tham của mình mà sẵn sàng làm mọi việc xấu xa, mất hết cả nhân tính, loại người này là thiểu số. Ba là tận trung với vua, tận nghĩa với bằng hữu hoặc vì một lý tưởng nào đó mà sống một cách ngoan cường, có nhiều cống hiến, không sợ sự chê bai của người đời, dám nhảy vào nước sôi lửa bỏng, dẫu chết cũng không sờn lòng. Loại người này cũng rất hiếm. Loại thứ nhất là đánh mất nhân tính, loại thứ hai là nhân tính bị biến thái méo mó, đầy thú tính; loại người thứ ba là sự thăng hoa của nhân tính, trở nên siêu phàm, thành hóa thân của “trung”, “nghĩa”, “đạo”, rất gần với nhân cách của hiệp khách.

Lộc Đỉnh Ký
Lộc Đỉnh Ký – Kim Dung

Trong “Lộc Đỉnh ký”, để hoàn thành trọng trách mà tiên đế Thuận Trị ủy thác, Hải Đại Phú đã dốc hết tâm trí, đến nỗi mù cả đôi mắt, mất cả tính mạng vẫn không mảy may hối tiếc. Tư Mã Thiên trong “thư trả lời Nhâm An” đã nói: “… Tôi chỉ vì chưa thỏa được chí nguyện của mình nên phải gắng sống”. Chí nguyện ông nói đây là hoàn thành bộ “Sử ký”. Những người như Tư Mã Thiên, Hải Đại Phú đã coi thường vinh nhục, coi thường sống chết mà còn dũng cảm tự vượt mình. Họ đem giá trị của sự sinh tồn gửi gắm vào sự nghiệp.

Tiểu thái giám Khấu Liên Tài cuối đời nhà Thanh vì lo nghĩ đến sự an nguy của xã tắc, không quản mình địa vị thấp hèn đã dũng cảm dâng bản điều trần yêu cầu Từ Hy thái hậu trả lại quyền bính cho hoàng đế Quang Tự, dừng ngay việc tu tạo vườn Viên Minh; Khấu Liên Tài đã bị giết hại một cách thảm khốc lúc mới 18 tuổi. Hoạn quan vốn chỉ là “trò chơi của chúa thượng, được nuôi như đám nhà trò con hát, và người đời thì vẫn khinh rẻ”, vậy mà Khấu Liên Tài không bị bùn nhơ ô nhiễm, cương trực ngoan cường, hào khí lẫm liệt, có thể sánh với những bậc anh hùng như Đàm Tự Đồng, Trâu Dung. Những vị thái giám ấy tuy thân thể bị tàn tật nhưng về mặt tinh thần lại rất mạnh mẽ. Tư Mã Thiên trở thành sử gia đầu tiên viết truyện về hiệp khách, đưa họ vào sử sách, chẳng phải là điều ngẫu nhiên, mà bởi vì từ sự trải nghiệm đau đớn của mình ông đã ngộ được yếu quyết của hiệp khách.

Những hiệp khách xuất thân từ hoạn quan có một số đặc điểm: – to gan làm liều, không sợ gì hết, bởi vì họ sống nhưng đã không còn quan tâm đến vinh nhục, buồn vui, sống chết (coi như đời đã bỏ đi); – nhẫn nhục gánh vác trách nhiệm nặng nề, kiên trì nhẫn nại, khéo giấu chí mình, như Hải Đại Phú tuy biết rõ Vi Tiểu Bảo là kẻ đã làm mù đôi mắt của mình nhưng vẫn sống hòa thuận với y, sức ẩn nhẫn này thật quá sức tưởng tượng; – hiểu rõ thế thái nhân tình, hiểu rõ nội tình trong cung như lòng bàn tay, đối với những vấn đề, những tệ đoan triều chính họ am hiểu kỹ càng hơn cả hoàng đế, có thể suy nghĩ sâu xa; – rất mực trung thành với chủ, rất ít khi thay đổi khí tiết.

Đương nhiên, sinh lý bị tàn khuyết nên tâm lý cũng bất bình thường, tính khí thất thường, đôi khi làm cả những việc bất cận nhân tình. Chẳng hạn như nhân vật Hải Đại Phú trong “Lộc Đỉnh ký” cơ bản là thuộc nhân vật chính phái nhưng ra tay cũng rất độc ác, bảo bối tùy thân là “hóa thi phấn” (bột tan thây), thủ đoạn ấy người thuộc danh môn chính phái không bao giờ làm.

9. Kẻ trộm (thâu)

Trong tiểu thuyết võ hiệp, hiệp khách là một giai tằng xã hội rất đông đảo và hỗn tạp, có đủ “tam giáo cửu lưu”, “thần thâu” cũng không ngoại lệ, nhưng kẻ trộm (thâu) là địa vị thấp nhất. Trong thiên “Mạnh Thường Quân liệt truyện” sách “Sử ký”, khi Mạnh Thường Quân sang thăm nước Tần, bị giam lỏng, định đem áo cầu đút lót cho ái thiếp của Tần Chiêu Vương để tìm cách thoát thân; nhưng áo cầu bằng lông hồ ly trắng đã tặng cho Chiêu Vương mất rồi. Thế là, “kẻ thấp hèn nhất, có khả năng giả làm chó để ăn trộm” bèn đứng ra, trong đêm khuya lẻn vào cung điện nước Tần lấy trộm áo cầu. Vậy mà, trước đây, khi Mạnh Thường Quân tiếp nhận người ấy làm khách “tân khách đều thấy xấu hổ”. Thảo nào trong một số tiểu thuyết võ hiệp, các “thần thâu” tự xưng là “chuột trong hang”. Điều này một mặt là do kẻ trộm bị khinh rẻ, mặt khác cũng phản ánh địa vị xã hội thấp hèn và tâm lý tự ti của họ.

Thiên “Khư kiệp” (cắp hòm) trong sách Trang Tử có viết rằng:

“Biết được trong nhà có gì, thế là thánh; vào trước, là dũng; ra sau, là nghĩa; biết được hay không, là trí; chia đều, là nhân. Không có đủ năm đức ấy thì không thể thành được kẻ trộm lớn”. Có được năm đức ấy gọi là: “đạo (kẻ trộm) cũng có đạo”.

Ở đây Trang tử không dành để chỉ bọn ăn trộm vặt nơi đường phố mà chủ yếu là nói về cường đạo chốn lục lâm. Nhưng lời đánh giá “đạo cũng có đạo” của Trang Tử cũng phù hợp với “thần thâu”. “Thần thâu” “nghĩa tặc” đều to gan làm xằng, đầy lòng tự tin, chẳng sợ gì thiên la địa võng, thông thường lúc ra tay cũng không hề khiếp sợ.

Trong “Xa trung nữ tử” (Cô gái trong xe) của truyền kỳ đời Đường, có một đám “hiệp đạo” do một cô gái cầm đầu ngang nhiên vào lấy trộm bảo vật của hoàng cung, khiêu khích cả nhà vua. Trong tiểu thuyết đời Minh có câu chuyện kể về “thần thâu” Lại Long mỗi khi gặp tham quan ô lại là quyết không bỏ qua, nhất định phải trổ tài lấy trộm để cảnh cáo. Có một lần, y lấy trộm 200 lạng vàng của tri huyện huyện Vô Tích, để lại ký hiệu “Nhất chi mai”. Tri huyện điên đầu, hạ lệnh cho bổ khoái mau tróc nã tội phạm. Đã làm thì làm cho tới tay, đang đêm Lại Long lại vào huyện nha, cạo đầu vợ bé quan huyện, đem tóc nhét vào hộp đựng ấn, lại vẽ lên tường ký hiệu “nhất chi mai”. Sáng sớm hôm sau, cả huyện nha kinh ngạc: Tri huyện sợ líu cả lưỡi, nói rằng:

“Hóa ra lại là người đến hôm trước, thấy ta ra lệnh truy nã gấp, y lại trổ tài thần thông, báo tin cho ta. Cắt cả đầu tóc, rõ ràng muốn nói là có thể cắt đầu; đặt vào trong hộp ấn rõ ràng muốn nói là có thể lấy được cả ấn vua ban. Tên giặc này thật là lợi hại! Hôm trước sai dịch khuyên ta không nên đụng đến người này hóa ra là vì thế. Nếu không dừng tay tất gặp đại họa. Vàng là việc nhỏ, khảo mấy nhà giàu là lại có. Thôi, không truy cứu nữa!”.Bèn vội vàng thu hồi lệnh truy nã.

Đến thế thì cả mệnh quan của triều đình cũng phải cúi đầu trước đạo tặc, khiến người ta không nhịn được cười. Vị quan huyện này có thể nói là “thức thời”, mà Lại Long tài cao mật lớn cũng đáng gọi là “nhất tuyệt”.

“Thần thâu” “nghĩa tặc” phần nhiều đều dám làm dám chịu, có phong độ “đại tướng”. Lại Long mỗi lần gây án đều cảnh cáo trước, xong việc đều để lại ký hiệu của mình. Đồng thời, kẻ trộm đều mưu trí, nhanh nhẹn hơn người và cũng có phần xảo trá. Trong tiểu thuyết “Ngã Lai Dã” đời Tống kể rằng: ở kinh đô có một tên kẻ trộm sau khi gây án đều để lại ba chữ “Ngã Lai Dã” (ta đến đây). Một hôm, bổ khoái bắt được cả người lẫn tang vật, cho rằng kẻ bị bắt chính là “Ngã Lai Dã”, nhưng y có chết cũng không chịu nhận. Vụ án cứ nhùng nhằng không xử được. Tên trộm ấy bèn đút lót cho ngục tốt, nửa đêm ra khỏi tù “trổ tài” và lại đề lên cửa nhà bị mất trộm ba chữ “Ngã Lai Dã”. Cai ngục mắc mưu, cho rằng “Ngã Lai Dã” là một người khác bèn thả tên trộm này ra.

Trong tác phẩm “Minh đích phong vân lục” của Lương Vũ Sinh, một hôm phủ họ Hàn bỗng dưng đầy máu, thi thể ngổn ngang, lão anh hùng họ Hàn không biết đã đi đâu. Trên hiện trường chỉ còn một tên trộm nhãi nhép đang ngất xỉu. Đợi y tỉnh lại, y liền liến thoắng kể lão tướng họ Hàn cấu kết với dị tộc, tàn hại võ lâm đồng đạo. Y lừa được khối người khiến thanh danh của Hàn lão anh hùng bị bôi nhọ một cách oan uổng.

Nghiêm khắc mà nói, võ hiệp chủ trương tỉ võ, đấu sức một cách trực diện, quang minh, thậm chí coi thường cả việc dùng ám khí hay đầu độc. Dù mục tiêu của “thần thâu” “hiệp đạo” có cao quý đi nữa thì cái thuật trộm cắp cũng khiến người ta cảm thấy thiếu quang minh chính đại. Lại nữa, những kẻ giở ngón khéo tay lấy trộm dù là để cảnh cáo tham quan ô lại nhưng vẫn có động cơ tham tiền của. Mà trong thế giới giang hồ tượng trưng của tiểu thuyết võ hiệp, hiệp khách không nên phí tâm sức cho vấn đề của cải mưu sinh, nếu không thì còn đâu là anh phong hiệp cốt? Cho nên trong người giang hồ thuộc tam giáo cửu lưu, hình tượng “thần thâu” “nghĩa tặc” kém xa những hình tượng như tăng đạo, hiệp cái, thích khách. Nên hiểu rằng hiệp khách tượng trưng cho nhân cách siêu phàm, “tuồng trộm cắp” rõ ràng là rất phàm tục.

Dùng quan điểm lịch sử hiện đại mà phân tích, thì “thần thâu nghĩa tặc” là sự phản kháng đối với nền chính trị hủ bại, là dấu hiệu cho thấy hiện thực xã hội đã vô phương cứu chữa, cho nên việc đả kích nhằm vào tham quan ô lại của “thần thâu” cũng có ý nghĩa tích cực nhất định.

10. Kẻ cướp (đạo)

“Đạo” là một khái niệm rất khó xác định. Trong mắt của Hàn Phi Tử, tất cả các loại du hiệp “dùng võ mà phạm cấm” đều là kẻ cướp, đều thuộc vào loại “bọn dân đáng chết”, nhưng không ít đạo phỉ tụ tập ở sơn lâm lại nêu cao tinh thần hiệp nghĩa.

Trương Hoa (đời Tấn) trong bài thơ “Bác Lăng vương cung hiệp khúc” nói:

“Thê trì hùng bi huyệt
Dung dữ hổ báo lâm.
Thân tại pháp lệnh ngoại,
Túng dật thường bất cấm”.

(Náu mình trong hang gấu,
Chung rừng với cọp beo.
Thân ngoài vòng pháp luật,
Ai cấm đoán được nào).

Đối tượng ngâm vịnh ở đây là hiệp khách hay là đạo tặc? Không rõ. Hiệp và đạo đều không chịu sự ràng buộc của pháp lệnh quốc gia, đều sống trong dân gian, đều tự do phóng túng, vào sinh ra tử, dám chung đàn với hổ báo.

Nhà thơ Bảo Chiếu từng viết bài “Đại kết khách thiếu niên trường hành”:

“Thất ý hoài tửu gian, Bạch nhận khởi tương cừu. Truy binh nhất đán chí, Phụ kiếm viễn hành du”.

 (Bực mình say cuộc rượu, Mũi kiếm chẳng dung tha. Quan quân mà đuổi đến, Đeo kiếm ruổi đường xa).

Trong cuộc rượu tình cờ có lời không vừa ý, liền tuốt kiếm, trừng mắt báo thù, biểu hiện kiểu ấy quá tầm thường, còn như “gây rối” rồi bỏ chạy thì lại quá kém cỏi, chẳng “dám làm dám chịu”. Xem ra anh chàng “áo gấm đeo gươm ngô” này nếu coi là hiệp thì chẳng thà gọi là “đạo”. Phương thức hành vi và khí chất tính cách của hiệp và đạo na ná giống nhau, chỉ có một điểm khác duy nhất là: tiêu chuẩn giá trị của hành vi khác nhau. Những võ sĩ “vì nước vì dân”, “thế thiên hành đạo”, “trừ kẻ cường bạo giúp người yếu đuối”, “tế khốn phò nguy” là hiệp khách; mà những võ sĩ bắt nạt người cô đơn yếu đuối, ngang tàng làm bậy lại là kẻ cướp. Hiệp và đạo không phải là không liên quan gì với nhau.

Nhân tính là phức tạp. Một người làm một việc tốt không khó, khó là ở chỗ suốt đời chỉ làm việc tốt không làm việc xấu; những người thường chỉ làm những việc đúng đắn cũng khó tránh khỏi nhất thời “lầm lỡ”; kẻ quen làm việc xấu cũng có thể “cải tà qui chính”. Hiệp và đạo có thể chuyển hóa lẫn nhau, mà hiệp khí và đạo khí lại thường đồng thời tồn tại ở một con người (Nhà văn đương đại Mạc Ngôn trong “Dòng họ Cao lương” có viết: “Ông tôi vừa là anh hùng vừa là thổ phỉ. Ông giết người cướp của lại tận trung báo quốc, đánh bọn giặc Nhật tơi bời…”)

Nếu dùng thuật ngữ của Freud mà nói thì “đạo khí” là “bản ngã”, nó là tính động vật nguyên thủy của con người, làm việc theo nhu cầu khoái lạc của mình, không phục tùng lý tính và nguyên tắc đạo đức, là dục vọng mù quáng. Dùng con mắt tâm lý học hiện đại mà phân tích, độc giả say mê với những cảnh đả đấu trong tiểu thuyết võ hiệp, phản ánh tâm lý hiếu chiến trong tiềm thức nhân loại, huống nữa hiệp khách luôn sống trước lưỡi kiếm mũi đao, thì sao lại không có tiềm thức hiếu dũng hiếu chiến? Còn hiệp khí thì tương đương với cái “siêu ngã”, nó yêu cầu hành động của con người phải tuân theo quy phạm đạo đức xã hội, đạt đến cảnh giới tinh thần cao thượng, siêu việt đời sống thế tục.

“Bản ngã” và “siêu ngã” về căn bản là đối lập, xung đột lẫn nhau, còn “tự ngã” là trung gian, điều tiết quan hệ giữa “siêu ngã” và “bản ngã”. Con người hiện thực vừa là con người bản năng, vừa là con người lý trí và con người xã hội, là hợp thể của con người “bản ngã”, “tự ngã” và “siêu ngã”. Một con người, khi cái “siêu ngã” chiếm địa vị chủ đạo thì anh ta là “đại hiệp sĩ”, khi “bản ngã” diệu vũ dương oai thì anh ta là đạo tặc, còn “tự ngã” là trạng thái bình thường của con người, cho nên rất nhiều võ sĩ vừa là đạo tặc vừa là hiệp khách, có màu sắc vừa chính vừa tà.

Trong “Thủy hử truyện”, hảo hán Lương Sơn Bạc cơ bản là những hiệp khách “thế thiên hành đạo” nhưng đồng thời cũng có nhiều hơi hướng của đạo phỉ. Hơi hướng đạo phỉ ấy trước hết biểu hiện ở sự hung hãn bá đạo, lạm sát người vô tội. Lỗ Trí Thâm khi xuất gia trên núi Ngũ Đài, ép hòa thượng ăn thịt chó, có người khuyên can, anh ta “ném miếng thịt chó, vung quyền đả vào cái đầu trọc” của người ta.

Thuỷ Hử - Thi Nại Am
Thuỷ Hử – Thi Nại Am

Võ Tòng ở Khổng gia trang đòi rượu thịt, không vừa ý bèn “đứng phắt dậy xòe năm ngón tay đánh vào mặt chủ quán một chưởng khiến chủ quán văng sang một bên”. Võ Tòng xông vào lầu Uyên Ương, giết một hơi 12 người. Vợ chồng Trương Thanh Tôn Nhị Nương mở “hắc điếm” giết người ở Thập tự pha, bao nhiêu khách qua đường đã trở thành oan hồn nơi hoang dã. Đạo khí còn biểu hiện ở nghĩa khí anh em không phân phải trái.

Võ Tòng say đánh Tưởng Môn Thần, thật khoái chá hả hê, người đời đều truyền tụng. Kỳ thực đằng sau “hành vi hiệp nghĩa” này lại có phần chẳng quang minh gì. Bởi vì Thi Ân đã từng nói: anh ta (Thi Ân) đã dặn các sòng bạc ở Khoái hoạt lâm “khi có bọn kỹ nữ đi qua thì trước hết phải đến “thăm” tiểu đệ sau đó mới cho phép chúng được gỡ gạc”. Từ đó có thể thấy, Thi Ân và Tưởng Môn Thần cũng như nhau, đều là ác bá một vùng, chẳng qua Tưởng Môn Thần bá đạo mạnh hơn nên Thi Ân phải lép vế. Tranh chấp giữa Thi Ân và Tưởng Môn Thần nói trắng ra chỉ là sự tranh chấp địa bàn làm ăn của xã hội đen, chẳng có chính nghĩa gì đáng nói. Võ Tòng đã kết nghĩa anh em với Thi Ân bèn đứng về phía Thi Ân một cách vô điều kiện, chẳng hỏi nguyên do gì cả, thật khác xa phong độ hiệp khách vì dân vì nước. Người ta thường nói: “ấu bất độc Thủy hử” (trẻ em không đọc “Thủy hử”) vì “Thủy hử” dạy đánh bậy; quá khứ quan phủ chê trách “Thủy hử” là “hối đạo chi thư” (sách dạy kẻ cướp) cũng có cái lý nhất định. Đương nhiên, nguyên nhân chủ yếu khiến quan phủ phủ định “Thủy hử” là do nó ca tụng nghĩa quân chống lại triều đình, thì sự ca tụng đó lại là điểm sáng của “Thủy hử truyện”.

“Thủy hử truyện” không né tránh hơi hướng đạo tặc của các hảo hán Lương Sơn chính là sự biểu hiện trung thực với đời sống khách quan, trung thực với nhân tính hiện thực của Thi Nại Am. Hiệp khách mà không có một chút hơi hướng đạo tặc là điều khó tin được. Trong “Đại đạo “Yến tử”, Lý Tam truyền kỳ” (chuyện truyền kỳ về đại đạo “Yến tử” Lý Tam) của Liễu Khê kể về tay “đại đạo” khét tiếng ở kinh thành là Lý Tam phiêu bạt giang hồ phường phố, ra vào lầu xanh quán trà, giao thiệp với tam giáo cửu lưu nhưng hầu như không có hành vi xấu, điều ấy có phần siêu phàm thoát tục. Kim Dung trong “hậu ký” của tác phẩm “Lộc Đỉnh ký” đã nói rất đúng rằng:

“Nhân vật trong tiểu thuyết nếu như mười phần toàn mỹ thì khó tránh khỏi thiếu chân thực. Tiểu thuyết phản ánh xã hội, trong xã hội hiện thực không có con người tuyệt đối hoàn mỹ. Tiểu thuyết không phải là sách giáo khoa.”

Có lẽ chúng ta có thể mạnh dạn nói rằng: Những tiểu thuyết mà trong đạo có hiệp, trong hiệp có đạo là những tiểu thuyết chân thực và sâu sắc.

Vô luận là trong tiểu thuyết võ hiệp hay trong sự thực lịch sử đều để lại những ví dụ nổi danh về sự chuyển hóa lẫn nhau giữa “hiệp” và “đạo”. Theo truyện “Chu Xử” trong “Thế thuyết tân ngữ” của Lưu Nghĩa Khánh thì: “Chu Xử thời niên thiếu hung dữ cường bạo, có hiệp khí”, “làm hại bách tính”, người trong làng ghép anh ta với mãnh hổ và giao long mà gọi là “tam ác”. Chu Xử giết chết cọp, đánh nhau với giao long ba ngày ba đêm, người trong làng nghĩ rằng thế là ba kẻ ác đều chết, cùng nhau ăn mừng. Chu Xử “giết chết giao long rồi lên khỏi mặt nước về làng, thấy người trong làng đang ăn mừng, mới biết hóa ra mình vốn là tai họa của dân làng, có ý hối cải”. Từ đó Chu Xử lập chí làm việc tốt, trở thành hiệp khách được người đời tôn kính.

Lại như, Thanh bang và Hồng bang vốn là hai tổ chức bí mật vừa hiệp vừa đạo trong dân gian. Nhưng sau khi hai bang này hợp nhất, nhất là sau khi Thanh Hồng bang tiến vào thành phố thì chúng đã hoành hành bá đạo, buôn bán thuốc phiện, mở sòng bạc và lầu xanh, bắt cóc tống tiền, làm đủ mọi việc ác, biến thành hắc bang tàn hại nhân dân. Chúng còn cấu kết với bọn quân phiệt, chính phủ Quốc Dân đảng và thế lực ngoại quốc, đàn áp những người Cộng Sản, phá hoại phong trào công nhân, hoàn toàn biến thành một lực lượng chính trị phản động. Xã hội bí mật có tính chất hai mặt. Nó vừa có thể làm dịu bớt nỗi đau khổ của nhân dân vừa có sức phá hoại lớn đối với sự ổn định của xã hội và diễn tiến của văn minh. Vì vậy không nên một mực tán dương cũng không nên hoàn toàn phủ định, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hiệp và đạo là một chứng minh.

11. Ẩn sĩ

Hiệp khách phần lớn là ẩn sĩ, lìa công danh, xa triều đình, ở ẩn chốn giang hồ. Chữ “ẩn sĩ” ở đây còn có thêm một hàm nghĩa nữa tức là không chỉ thoát ra khỏi “thế giới quan phủ” mà còn muốn thoát khỏi cả “thế giới giang hồ”, không muốn đụng đến đao kiếm nữa. Họ không những là ẩn sĩ trong con mắt của người thường mà còn là ẩn sĩ trong mắt của hiệp khách.

Có tư cách rút khỏi võ lâm, tắt bóng chốn sơn lâm thường thường là những cao thủ giang hồ, hiệp khách nổi tiếng một thời. Nếu không vậy, một võ sĩ mà võ công và nhân cách đều tầm thường, vốn chẳng có tiếng tăm, thì có gì mà gọi là “ẩn”?

Hiệp khách rút khỏi giang hồ có nhiều nguyên nhân. Một loại là “công thành thân thoái” để tránh cái lụy của tiếng tăm, ẩn cư để yên ổn phần còn lại của cuộc đời, hoặc giả muốn chú tâm tham ngộ những điều bí ẩn của võ học và nhân sinh. Những người như Thẩm Lãng, Vương Lân Hoa trong “Đa tình kiếm khách vô tình kiếm” là thuộc loại này. Một loại là trải qua những biến cố lớn trong đời, đau lòng nhận rõ phong ba hiểm ác chốn giang hồ, từ sự phẫn nộ, đồng thời cũng vì sự an toàn của mình mà cương quyết rút lui.

Đa tình kiếm khách - vô tình kiếm
Đa tình kiếm khách – vô tình kiếm

Ẩn sĩ loại này thường thấy dưới ngòi bút của Kim Dung. Như cao thủ kiếm tông của phái Hoa Sơn trong “Tiếu ngạo giang hồ”, bị trúng gian kế của khí tông phái Hoa Sơn, rời Hoa Sơn thành thân với một kỹ nữ giả trang thục nữ, lúc trở về mới biết thầy và bạn thuộc kiếm tông đã đã bị khí tông giết hết ở Ngọc Nữ Phong. Khí tông đã đoạt được ngôi vị chưởng môn trong vũng máu còn chỉ trích kiếm tông là tà môn ngoại đạo, đuổi khỏi môn phái. Trải qua nỗi thống khổ sâu sắc ấy, Phong Thanh Dương chán nản, lại không thèm báo thù kẻ “ngụy quân tử” Nhạc Bất Quần của khí tông, ông thề suốt đời không so kiếm với bất kỳ ai nữa, sợ bẩn tay mình, lặng lẽ ẩn cư sau ngọn Ngọc Nữ Phong núi Hoa Sơn.

Bốn anh em Hoàng Chung Công, Hắc Bạch Tử, Đồi Bút Ông, Đan Thanh Sinh của Nhật Nguyệt thần giáo quá thất vọng vì sự sùng bái cá nhân Đông Phương Bất Bại và sự chuyên quyền của Dương Liên Đình, bèn nhận công việc nhàn hạ là canh gác giáo chủ tiền nhiệm Nhậm Ngã Hành, rời Hắc Mộc nhai, ẩn cư tại Mai trang tại Tô Châu, suốt ngày chìm đắm trong cầm kỳ thư họa. Nhân vật thứ hai của phái Hành Sơn là Lưu Chính Phong kết bạn tri âm với Khúc Dương, u trưởng lão của Nhật Nguyệt thần giáo, không muốn bị lôi cuốn vào cuộc xung đột giữa chính giáo và ma giáo, có ý “rửa tay chậu vàng”, đưa gia đình đi xa sang Tây Vực, rốt cuộc bị người trong chính giáo không cho phép, thân bại danh liệt, gia đình tan nát.

Những tao ngộ của ẩn sĩ loại thứ hai này khiến người ta phải suy nghĩ sâu xa. Xưa nay, tiểu thuyết võ hiệp đều mỹ hóa tự do và nghĩa khí của thế giới giang hồ, lấy đó để phủ định cái xấu xa tàn ác của thế giới quan phủ. Thế nhưng, bi kịch của những người như Phong Thanh Dương, Lưu Chính Phong và bốn anh em Mai trang lại thuyết minh rằng: thế giới giang hồ cũng chẳng trong sạch gì, trên nhiều phương diện nó cũng cùng kết cấu với thế giới quan phủ. Sự xuất hiện của ẩn sĩ võ lâm khiến tiểu thuyết võ hiệp được nâng cao thêm một tầng: nó không dừng ở chỗ hư cấu nên một xứ “đào nguyên” của tinh thần nhân văn Trung Quốc mà còn tiến thêm một bước, chỉ ra rằng xứ đào nguyên tận thiện tận mỹ kia không hề tồn tại. Những tác phẩm võ hiệp ấy không chỉ thuộc chủ nghĩa lý tưởng mà còn thuộc chủ nghĩa hiện thực phê phán.

Cổ thi nói rằng:

Lan diệp xuân uy nhụy,
Quế hoa thu hạo khiết.
… Thùy tri lâm thê giả,
Văn phong tọa tương duyệt.

(Lan mùa xuân tươi xinh,
Hoa quế thu trong sạch.
… Ai biết ở rừng xanh,
Gió thoảng hương thanh khiết)

Ẩn sĩ nổi tiếng bởi tính tình cao khiết. Trong lời “Hậu ký” sách “Tiếu ngạo giang hồ”, Kim Dung viết:

“Lệnh Hồ Xung là “ẩn sĩ” bẩm sinh, không thích thú gì quyền lực. Doanh Doanh cũng là “ẩn sĩ”, nàng có quyền sinh sát đối với giang hồ hào sĩ nhưng nàng thà ẩn cư trong ngõ hẻm ở Lạc Dương, đánh đàn thổi sáo làm vui.” Cuối cùng Doanh Doanh và Lệnh Hồ Xung cùng từ chức, trong hôn lễ họ đã hợp tấu khúc “Tiếu ngạo giang hồ” nhắn nhủ cùng thiên hạ. Khúc nhạc ấy ý tượng rất cao siêu, kẻ phàm phu tục tử không thể diễn tấu, đủ thấy hai người có tấm lòng trong sáng như nhật nguyệt.

Sự tình nào cũng có hai mặt của nó, ẩn sĩ “cao thượng kỳ chí” “độc thiện kỳ thân”, không chịu hùa theo bọn tà ác hư ngụy, đáng được khâm phục. Nhưng nếu quá ư giữ mình trong sạch, không quan tâm gì đến những nỗi vui buồn của thế gian, thờ ơ trước những sóng gió giang hồ thì cũng gần với tâm thái của kẻ khuyển nho. Mạc Đại tiên sinh là chưởng môn phái Hành Sơn tôn quý, nhưng coi thường địa vị của mình, như ẩn như hiện, tuy có lần ra tay giết Phí Bân là kẻ đã sát hại cả nhà Lưu Chính Phong nhưng cũng không muốn ra mặt đối kháng với những kẻ như Nhạc Bất Quần, Tả Lãnh Thiền.

Với sự thông tuệ của mình, hẳn là ông ta đã dự cảm được sát khí của buổi lễ “rửa tay chậu vàng” của Lưu Chính Phong nhưng trước đó ông đã cố ý tránh đi. Ông biết rõ Lệnh Hồ Xung bị đuổi khỏi môn phái là oan uổng nhưng cũng không đứng ra biện minh cho chàng. Tại thời điểm quan trọng, khi Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần âm mưu thôn tính Ngũ nhạc phái, ông hầu như chẳng làm gì cả. Âm thanh mà người ta có thể nghe thấy chỉ là khúc “Tiêu Tương dạ vũ” như khóc như than của ông. Thảo nào Lưu Chính Phong nói: Mặc dù Mạc Đại tiên sinh là người tốt nhưng cứ nghe thấy tiếng tì bà của ông là khó chịu. Ông cứ đi trên con đường ai oán ấy. Văn hóa Trung Quốc rất chú trọng “ai nhi bất thương, oán nhi bất nộ” (buồn mà không thảm, oán mà không giận – lời Khổng Tử đánh giá “Kinh thi”).

Ẩn sĩ nổi tiếng Đào Uyên Minh tuy một mặt nhàn thính vô vi “Thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến Nam Sơn” (Dưới rào đông hái cúc, xa trông thấy Nam Sơn) nhưng vẫn có mặt phẫn nộ

“Hình Thiên vũ can thích
Mãnh chí cố thường tại”
(Hình Thiên múa can thích
Chí mạnh mãi còn đây)

So ra thái độ xử thế của Phong Thanh Dương tích cực hơn Mạc Đại tiên sinh nhiều. Tại giờ phút quan trọng, khi ma giáo chuẩn bị tấn công Hằng Sơn ông không ngại nguy hiểm, ra lệnh cho Đào Cốc lục tiên báo tin cho phái Thiếu Lâm, nhờ Thiếu Lâm lấy tinh thần nghĩa hiệp ngăn chặn ma giáo. Tuy ông thanh thản như hồ nước lặng nhưng vẫn đầy nhiệt huyết, vẫn mang một tấm lòng hiệp nghĩa quan tâm đến võ lâm đồng đạo.

12. Nhà sư và đạo sĩ (tăng – đạo)

Trong tiểu thuyết võ hiệp, Đạo giáo và Phật giáo xuất hiện nhiều kỳ nhân dị sĩ, vô luận là hòa thượng ni cô, đạo sĩ đạo cô đều có võ công và nhân phẩm cao siêu, thường trở thành nhân vật quan trọng chỉ đường cho người ta ra khỏi bến mê, phán xét thị phi, hóa giải oan cừu.

Hòa thượng đạo sĩ là người thoát tục, vốn chẳng nên oán giận, coi ân oán hồng trần như mây khói thoảng. Nhưng trong tiểu thuyết võ hiệp họ lại bị cuốn vào vòng tranh đoạt đả đấu của thế giới giang hồ. Nơi hiệp tăng (nhà sư hiệp khách) hiệp đạo (đạo sĩ hiệp khách) thể hiện sự quan tâm sâu sắc đối với những đau khổ nhân gian, một loại tinh thần nhập thế tích cực.

Lỗ Trí Thâm trong “Thủy hử truyện” là một vị hiệp tăng quen thuộc với mọi nhà. Ông ta giữa đường thấy sự bất bình tất vung quyền vào trận, đấm chết Trấn Quan Tây, đại náo rừng dã trư, đêm náo thôn Đào Hoa, lửa thiêu chùa Ngõa Quan. Lý Trác Ngô khen rằng: “Nếu không có nắm đấm của Đề hạt, thì hóa ra lưới trời quá thưa.” Tế Công lại là một vị tăng hiệp mang màu sắc hài hước mà mọi người quen biết. Hồi thứ nhất trong tác phẩm “Tế Công toàn truyện” đời Thanh kể: Tế Công “vốn là người phụng thờ Phật pháp, đến để độ thế, tự mình tế khốn phò nguy, khuyến hóa chúng sinh”. Lời thiền đầu miệng của ông là: “Việc này ta há chẳng quan tâm!”

Đáng ra, niệm kinh, tham thiền, tu đạo mới là chính nghiệp của tăng đạo. Thế nhưng trong tiểu thuyết những vị tăng, đạo dám bước chân vào chốn giang hồ phần nhiều đều có thân thủ phi phàm. Điều này có căn cứ lịch sử nhất định.

Đạo giáo và Phật giáo trong lịch sử Trung Quốc đều có truyền thống thượng võ. Trước hết, tăng đạo đều coi trọng việc cường thân kiện thể, phòng bệnh kéo dài tuổi thọ, để cầu thông linh mà thành Phật, nhẹ nhàng mà lên tiên. Nhân vật quan trọng trong lịch sử Đạo giáo Trung Quốc là Cát Hồng. Trong cuốn “Bão phác tử” ông viết:

“Người biết được cái huyền diệu, thanh sạch thì nói phòng trung chi thuật có thể độ thế. Người biết được cái đạo của sự thở ra hít vào thì có thể kéo dài tuổi thọ. Người biết được yếu quyết của sự co duỗi thì có thể trẻ mãi. Người biết dùng các phương thuốc thảo mộc thì nhờ đó mà có thể vô cùng”.

Tuy sách của Cát Hồng có nói đến “trường sinh bất lão”, “đắc đạo thành tiên” một cách hoang đường nhưng thông qua sự nghiên cứu về lý luận và phương pháp đạo dẫn, hành khí thì trên khách quan cũng có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của khí công. Thứ nữa, trong cái thế giới hiện thực mà công lý không địch nổi cường quyền thì Phật và Đạo muốn siêu độ chúng sinh, bảo vệ giáo pháp, hàng phục yêu ma, có khi không thể không ra tay lấy sức mạnh chính nghĩa để diệt trừ sự tàn bạo. Trong bộ phim “Thiếu Lâm tự” có câu nói rất đúng rằng: “Đức Phật của chúng ta từ bi và diệt ác”. Trong “Tế Công toàn truyện”, Tế Công cũng có quan niệm: “Diệt kẻ ác tức là làm việc thiện”. Để trừng ác, tru diệt kẻ ác thì phải luyện tập võ công.

Luận về võ công của tăng đạo thì trước hết phải kể đến chùa Thiếu Lâm ở núi Tung Sơn và cung Tử Tiêu núi Vũ Đương. Quyền pháp Thiếu Lâm sở trường về chiến đấu, đứng đầu công phu ngoại gia; Thái cực quyền và Bát quái quyền của Vũ Đương lấy tĩnh chế động là tột đỉnh của nội công. Nhất là võ công Thiếu Lâm, luôn được tôn là nguồn gốc của võ thuật Trung Quốc. Tăng đạo gửi thân võ lâm, không chỉ mang theo võ công cái thế mà điều quan trọng hơn là đem đến cho võ lâm một loại quy phạm đạo đức. Người luyện võ luôn sống trước mũi đao lưỡi kiếm, ra tay là có thể làm bị thương hoặc lấy mạng người, rất dễ trượt xuống khuynh hướng tàn nhẫn. Phật, Đạo phản đối sự hiếu sát đem tiếng mõ chiều chuông sớm giải độc cho chốn võ lâm chát chúa tiếng gươm đao.

Thiên Long Bát Bộ - Kim Dung
Thiên Long Bát Bộ – Kim Dung

Trong “Thiên Long bát bộ”, vị sư già ở tàng kinh các đã thuyết pháp cho các cao thủ võ lâm:

“Đệ tử nhà Phật học võ là để cường thân kiện thể, bảo vệ Phật pháp hàng phục yêu ma. Khi luyện tập bất cứ võ công nào lòng vẫn giữ niềm từ bi nhân thiện. Nếu không lấy Phật học làm cơ sở thì tất làm thương tổn đến thân thể… Phật pháp để độ thế, võ công để sát sinh, hai thứ nếu đi ngược đường nhau thì sẽ khắc chế lẫn nhau. Chỉ có Phật pháp càng cao, lòng từ bi càng thịnh thì mới luyện được võ công tuyệt kỹ. Nhưng những cao tăng đã đạt đến trình độ ấy vẫn không luyện những loại võ công giết người ghê gớm”.

Trong “Ỷ thiên Đồ long ký”, để báo mối thù giết cả nhà, Tạ Tốn đã ra tay tàn sát để ép hung thủ Thành Côn lộ mặt. Cao tăng chùa Thiếu Lâm là Không Kiến mang lòng nhân hậu, có ý hóa giải oan nghiệt ấy. Ngày ấy, Tạ Tốn lại định đi giết đại hiệp Tống Viễn Kiều của Vũ Đương, Không Kiến liền xuất hiện ngăn cản. Theo hồi ức của Tạ Tốn:

“Ta nhảy ra ngoài tường, chân chưa chạm đất, bỗng cảm thấy bên vai có người vỗ nhẹ. Ta giật mình kinh hãi. Với võ công lúc ấy của ta mà có người đưa tay vỗ được vào người ta mà ta không kịp ngăn chặn là điều không thể tưởng tượng được. Vô Kỵ, con nghĩ xem, cái vỗ ấy tuy nhẹ, nhưng nếu người ấy vận kình lực vào bàn tay thì ta há chẳng bị trọng thương sao? Ta lập tức trở tay ngăn lại, thì chỉ chạm vào khoảng không; ta đánh lại một quyền thì quyền tự nhiên cũng không đánh trúng ai cả. Chân trái vừa chạm đất, ta lập tức quay mình thì lúc ấy vai ta lại bị vỗ nhẹ một chưởng, đồng thời sau lưng có người than: “Biển khổ vô biên, quay đầu lại là bờ.” (Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn)

Không Kiến nếu muốn đưa Tạ Tốn vào chỗ chết thì dễ như trở bàn tay. Nhưng ông chỉ một lòng muốn cảm hóa Tạ Tốn, thế là ông đánh cuộc với Tạ Tốn: Tạ Tốn đánh ông 13 quyền, ông hoàn toàn không chống trả. Nếu Tạ Tốn không đánh bị thương được ông thì mối oan cừu này (với Thành Côn) phải xóa bỏ. Tạ Tốn dùng quỷ kế, đánh ông bị thương trí mạng ở quyền thứ 13. Trước lúc lâm chung, Không Kiến mỉm cười nói rằng:

“Chỉ mong thí chủ từ nay về sau mỗi khi định giết người thì hãy nhớ đến lão nạp.”

Nghĩa cử của Không Kiến chính là thực tiễn của niềm tin của vị lão tăng ở tàng kinh các chùa Thiếu Lâm. Người hiệp khách chân chính cần phải giỏi võ mà không hiếu sát. Ẩn hiện dưới ánh đao bóng kiếm vẫn còn mãi một tấm lòng bi thiên mẫn nhân.( Mẫn nhân: thương người.)
———————-
Theo Văn hoá võ hiệp – Chương 3 – Ôn Tử Kiến

Avatar of Chim Én

Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội

Leave a Reply

Back To Top

You cannot copy content of this page