banner wece
epictetus

Cuộc đời của Epictetus và tác phẩm Discourses

Views: 109

Discourses (Giáo ngữ) của Epictetus là một trong ba tuyên bố đầy sức thuyết phục của đạo đức học thực tiễn khắc kỷ từ thời kỳ đầu của Đế chế La Mã; hai tuyên ngôn còn lại là Letters (Những lá thư) của Seneca và Meditations (Suy tưởng) của Marcus Aurelius.

Discourses (Giáo ngữ)

Về phương diện nào đó, tác phẩm của Epictetus là quan trọng nhất. Epictetus, không giống như hai nhà tư tưởng kia, ông là một người thầy khắc kỷ chính thống và là một trong những người nổi tiếng nhất ở thời của ông.Discourses (Giáo ngữ) và Handbook (Cẩm nang thư) là hai tác phẩm sinh động, thẳng thắn, đầy sức thuyết phục và thách thức, được thể hiện theo phong cách gần gũi, dễ hiểu với nhiều người.

Chúng trình bày các nguyên tắc đạo đức cốt lõi của Chủ nghĩa Khắc kỷ dưới một hình thức được bố trí nhằm giúp mọi người có thể áp dụng những nguyên tắc đó vào thực tiễn và sử dụng chúng làm nền tảng để hướng tới một cuộc sống tốt đẹp của con người. Một thông điệp chính yếu là: cơ sở của hạnh phúc hay an lạc đều “tùy thuộc vào chúng ta” và tất cả chúng ta đều có khả năng hướng đến trạng thái này, bất kể bối cảnh xã hội đặc thù hay cá tính của chúng ta. Một chủ đề có liên quan là: để đạt được tiến bộ theo chiều hướng này đòi hỏi sự kết hợp giữa suy ngẫm, phê phán và nỗ lực không ngừng nghỉ, đặc biệt là trong việc đưa những nguyên tắc của chúng ta vào hành động và các mối quan hệ của mình.

>>Chủ nghĩa khắc kỷ : để đời thêm hạnh phúc và bình an

Epictetus cũng nhấn mạnh rằng khả năng này tạo thành một phần quan trọng và không thể tách rời của những gì khiến cho con người trở nên đặc biệt trong vũ trụ tự nhiên, cũng như là biểu hiện xuất sắc của những điều “thần thánh” trong chúng ta. Giáo ngữ của Epictetus là tác phẩm được biết đến rộng rãi nhất và có sức ảnh hưởng nhất trong tất cả các tác phẩm của trường phái khắc kỷ, từ thời cổ đại cho đến nay.

Các bài thuyết giảng ấy vẫn phát biểu hùng hồn với độc giả thời hiện đại và đã khoác lên một ý nghĩa mới trong những năm gần đây, làm nền tảng cho “những chỉ dẫn trong cuộc sống” và trị liệu tâm lý nhận thức.

Cuộc đời của Epictetus và hoàn cảnh ra đời Giáo ngữ

Chúng ta không biết gì nhiều về cuộc đời của Epictetus; và phần lớn những gì ta biết đều đến từ các tác phẩm của ông. Ông sinh ra ở Hierapolis, một thành phố cách Ephesus khoảng một trăm dặm về phía đông, ngày nay là phía tây nam Thổ Nhĩ Kỳ. Rất có thể, ông sinh ra đã là một nô lệ và chuyển tới La Mã tại một thời điểm nào đó, có thể là khi ông được Epaphroditus mua lại.

Epaphroditus vốn là một nô lệ được giải phóng (cựu nô lệ), từng là thư ký và là nhân vật có ảnh hưởng trong thời kỳ cai trị của các hoàng đế Nero (54 – 69) và Domitian (81 – 96). Có lúc Epictetus đã miêu tả về mình như một lão già què chân, tình trạng thể chất này có thể là do tuổi già. Có lẽ khi còn ở với Epaphroditus, Epictetus đã có được những trải nghiệm về tham vọng, tính ganh tỵ và sự thất thường của cuộc sống tại triều đình mà ông đã gợi lên thật sinh động trong tác phẩm Giáo ngữ.

epictetus
Epictetus

Epaphroditus cho phép ông học triết học, khi vẫn còn là nô lệ với Musonius Rufus (30 – 101), một nhà khắc kỷ nổi tiếng, một số bài giảng của ông về đạo đức thực tiễn đã được ghi lại. Ở giai đoạn nào đó, Epictetus đã được Epaphroditus giải phóng khỏi thân phận nô lệ và vươn lên trở thành một thầy giáo tại La Mã, có lẽ là dưới sự hỗ trợ của Musonius. Vào năm 89, Hoàng đế Domitian trục xuất tất cả triết gia khỏi Ý vì nghi ngờ họ chống đối lại chế độ của ông ta. Epictetus định cư ở Nicopolis, Epirus, phía đông Hy Lạp, một thành phố lớn và phồn thịnh, đây là nơi mà cả người Ý lẫn người Hy Lạp đều có thể dễ dàng ghé thăm.

Ông mở một ngôi trường triết học, về sau ngôi trường ấy trở nên khá nổi tiếng và có một dịp nọ được Hoàng đế Hadrian (117 – 138) đến thăm. Có vẻ ông đã sống ở đó, thỉnh thoảng đi đó đi đây ít lâu cho tới khi qua đời. Ông sống độc thân, có vẻ là cống hiến cho công việc giảng dạy; nhưng tương truyền, vào cuối đời, ông có nhận nuôi một đứa trẻ và nhờ đó mà cứu nó thoát chết, ông đã lấy một người vợ­.

Về tác phẩm Discourses (Giáo ngữ)

Mặc dù chúng ta thường gọi Giáo ngữ và Cẩm nang thư là các tác phẩm của Epictetus, nhưng có vẻ như Epictetus, giống như Musonius và nổi tiếng hơn là Socrates (469 – 399 trước Công nguyên), không hề viết gì. Những tác phẩm này bao gồm các ghi chép về lời giảng dạy của ông, được lưu giữ bởi Arrian, người đã theo học với Epictetus từ khi còn trẻ, có thể là dưới thời Hoàng đế Trajan (105 – 113), khi Epictetus đang ở độ tuổi ngoài năm mươi hoặc đầu sáu mươi. Arrian xuất thân từ một gia đình Hy Lạp giàu có ở Nicomedia (bờ phía tây nam của Biển Đen), và tiếp tục có một sự nghiệp chính trị và quân sự lỗi lạc tại La Mã dưới thời Hadrian.

Discourses (Giáo ngữ)
Discourses (Giáo ngữ)

Ông cũng là tác giả của một số tác phẩm lịch sử, trong đó có cuốn tiểu sử quan trọng về Alexander Đại đế. Quyển 1 của Giáo ngữ được mở đầu trong bản thảo của chúng tôi bằng một bức thư, trong đó Arrian giới thiệu chúng như một bản ghi chép những lời dạy của Epictetus, dựa trên những ghi chép của ông thời còn theo học Epictetus, và sắp xếp để tái tạo lại tác động mạnh mẽ mà Epictetus đã mang đến cho người nghe. Arrian có thể đã hạ thấp vai trò của mình trong việc chuyển những ghi chú của ông thành các bài giảng, dưới dạng độc thoại hoặc đối thoại, mà trong đó, mỗi bài đều có sự mạch lạc riêng và có một bài rất dài.Tuy nhiên, lối dụng văn đơn giản (ngôn ngữ Hy Lạp “bình dân”, hay koinē) và mang tính trực tiếp mạnh mẽ là rất khác biệt so với văn phong của Arrian; và do vậy điều chúng ta được nghe có lẽ rất gần với tiếng nói của chính Epictetus. Có vẻ như lúc đầu Arrian đã viết tám cuốn sách, nhưng chỉ còn sót lại bốn cuốn đầu tiên, và bản thân ông cũng viết cuốn Handbook (hoặc Manual, Encheiridion – Cẩm nang thư) là một bản tóm tắt những chủ đề chính từ cuốn Giáo ngữ. (Discourses)

1.Chức năng chính của tác phẩm Giáo ngữ là gì?

Mặc dù chúng ta thường gọi chúng là những bài giảng của Epictetus nhưng điều này ít nhiều gây hiểu lầm. Các bài viết không phải ở dạng các hướng dẫn chính thức mà Epictetus dành cho các học trò của mình.

Qua phần tham khảo trong Giáo ngữ, rõ ràng là chúng có dạng bài thảo luận về các luận thuyết chính của phái khắc kỷ, đặc biệt là từ người đứng đầu thứ ba của trường phái, Chrysippus (280 – 206 trước Công nguyên), các bài tập được viết ra theo logic, và có thể là một số đoạn đối thoại của Plato. Có thể đặt giả thuyết là các bài học bao gồm ba phần chính trong chương trình học của phái khắc kỷ, đó là đạo đức, logic và vật lý (nghiên cứu về tự nhiên), mặc dù logic có vẻ được học chuyên sâu nhất.

2.Tác phẩm Giáo ngữ nói về cái gì

Giáo ngữ ghi lại những cuộc thảo luận có tính chất thân mật hơn, diễn ra trong trường hoặc xung quanh trường học, có thể là ở ngoài trời. Hầu hết các bài giảng đều trực tiếp, một cách rõ ràng hoặc ngụ ý, hướng đến các học trò của Epictetus, những chàng trai trẻ ở độ tuổi thanh thiếu niên hoặc độ tuổi đôi mươi, nhiều người trong số họ sống xa gia đình. Đây là một nhóm người thường có kinh nghiệm thực tế hoặc kinh nghiệm xã hội tương đối hạn chế, nhưng vốn kiến thức về triết học thì khá tốt.

Một chủ đề lặp đi lặp lại trong những bài giảng của Epictetus là học triết không chỉ là vấn đề diễn giải các câu chữ hay phát triển khả năng trong các hoạt động trí óc, đặc biệt là tư duy logic. Đó là việc học để đưa ra bức tranh tổng thể và mục đích cho cuộc sống của bạn; sử dụng kiến thức học được để định hướng cho mọi hành động, thái độ và các mối quan hệ của bạn.

Quan điểm về mục tiêu triết học này đã được chấp nhận rộng rãi trong thời kỳ văn hóa cổ Hy Lạp Hellenistic (thế kỷ 3 đến thế kỷ 1 trước Công nguyên) và trong hai thế kỷ đầu tiên của Công nguyên. Đặc điểm nổi bật của Chủ nghĩa Khắc kỷ là tuyên bố rằng, như các nhà khắc kỷ đã nói: “phẩm hạnh là thứ tốt đẹp duy nhất”, và sống có phẩm hạnh là mục tiêu chung đúng đắn duy nhất của một cuộc đời con người, so với điều đó, những thứ được gọi là tốt đẹp khác chỉ là “những vấn đề không quan trọng”. Phần lớn những lời dạy của Epictetus đều trực tiếp nhấn mạnh rằng mục đích của việc học triết học là để mang đến cho cuộc đời bạn một cấu trúc tổng thể và ý thức về các ưu tiên phù hợp với quan điểm khắc kỷ về hạnh phúc, thông điệp này đôi khi được củng cố bằng những lời chỉ trích về các cách tiếp cận đạo đức khác, mà trong đó, đáng chú ý là Chủ nghĩa Hưởng lạc .

Epictetus còn đưa ra chỉ dẫn về cách mà quá trình này ảnh hưởng tới việc thiết lập niềm tin, cảm xúc, các mối quan hệ cá nhân, và mô típ hành động của một người. Thông thường, đối tượng của các bài giảng được cho là học trò của Epictetus; đôi khi ông nói chuyện với những người lớn tuổi hơn mình, đây là những người đến thăm trường học của ông bởi vì họ sinh sống ở địa phương hoặc bị thu hút bởi danh tiếng của ông .Thông điệp của ông trong cả hai trường hợp về bản chất đều giống nhau, đôi khi đặc biệt hướng đến những người có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nhưng trước đó lại ít được học tập, nghiên cứu.

Những chủ đề đặc biệt: Mối quan hệ với lý thuyết khắc kỷ

Nếu đây là mục đích chung của Epictetus trong các bài giảng của mình, vậy thì các bản ghi chép, chúng ta có được phản ánh mục đích này như thế nào? Liệu có tồn tại một hệ thống tổ chức rõ ràng hoặc ngụ ý nào trong Giáo ngữ và Cẩm nang thư hay không?

Những chủ đề được đề cập đến trong tác phẩm của Epictetus tương ứng đến mức nào với những chủ đề được công nhận là tiêu chuẩn trong học thuyết khắc kỷ? Liệu Epictetus có đề xuất ý tưởng độc đáo hoặc sáng tạo nào trong triết lý khắc kỷ, trong những ghi chép này từ các cuộc thảo luận của ông không? Đó là những câu hỏi có phần phức tạp, đôi khi gây tranh cãi, nhưng lại là những câu hỏi cần được giải quyết để có thể đưa ra được ý nghĩa đầy đủ của các ghi chép giàu hàm ý này.

Đầu tiên, các chủ đề trong tác phẩm Giáo ngữ có mối liên hệ như thế nào với những đề tài được công nhận trong học thuyết khắc kỷ? Như đã đề cập, các học thuyết khắc kỷ, nhìn chung, được chia nhỏ giữa logic, đạo đức và vật lý (nghiên cứu về tự nhiên), tất cả đều được giải thích khá rộng. Đồng thời, các nhà tư tưởng khắc kỷ còn nhắm đến việc kết hợp và tổng hợp những phát hiện chính của các nhánh kiến thức này, cùng một số chủ đề “chung” nhất định, đặc biệt là về ranh giới giữa đạo đức và vật lý hay logic, được coi như là đặc biệt quan trọng.

giáo huấn của Epictetus
Lời giáo huấn của Epictetus

>> Những lời giáo huấn của Marcus Aurelius

Đạo đức là lĩnh vực quan tâm chính của Epictetus, mặc dù các chủ đề liên quan đến các mối liên kết với logic và vật lý cũng quan trọng. Sau đây là một danh sách tiêu chuẩn về các chủ đề đạo đức của phái khắc kỷ: động cơ (hormē), tốt và xấu, cảm xúc hay đam mê (pathē), phẩm hạnh, mục đích hay mục tiêu của cuộc sống (telos), giá trị và hành động, “những hành động thích hợp” (kathēkonta), những phương tiện để động viên hoặc can ngăn. Mặc dù đã bị thất lạc tất cả, ngoại trừ những trích dẫn từ những luận thuyết về các chủ đề này của những người đứng đầu trường phái khắc kỷ trong thời kỳ Hellenistic, chúng ta vẫn có những bản tóm tắt về đạo đức của phái khắc kỷ phù hợp với các đề mục nhỏ này.2 Vậy thì các chủ đề trong các tác phẩm của Epictetus có liên quan với những bản tóm tắt này đến mức nào?

Nhìn các tiêu đề trong tác phẩm Giáo ngữ, có vẻ như đưa ta quay trở lại với Arrian, cho thấy rằng các chủ đề của Epictetus không liên kết trực tiếp với những tiêu đề tiêu chuẩn hay tiêu đề phụ của lý thuyết đạo đức khắc kỷ. Các chủ đề của Epictetus đa dạng, mang tính cục bộ, và lặp đi lặp lại nhiều hơn; giống như những cuộc đối thoại Socrates trong Plato hay Xenophon (một nền tảng ảnh hưởng đáng kể tới tác phẩm Giáo ngữ), chúng thường tập trung vào các chủ đề nảy sinh khi Epictetus trao đổi với những đối tượng khác nhau. Tuy nhiên, rõ ràng là Epictetus có hàm ý nhắm tới các nội dung của học thuyết đạo đức khắc kỷ. Để xây dựng một khung diễn giải cho Giáo ngữ, việc đọc chúng như một sự phản ánh đầy đủ phạm vi của những học thuyết này hữu ích đến nhường nào? Trong hai nghiên cứu đáng chú ý được thực hiện vào cuối thế kỷ 19, Adolf Bonhöffer đã chỉ ra rằng các chủ đề của Giáo ngữ có thể tương quan, từng điểm một, với những chủ đề tiêu chuẩn và học thuyết cụ thể của đạo đức khắc kỷ và những lĩnh vực tương tự, đặc biệt là tâm lý học.

 Các học giả cận đại hơn đã đề xuất rằng điều này mang đến một cái nhìn quá hệ thống về tính chất của các cuộc thảo luận của Epictetus. Ví dụ như, A. A. Long trong chuyên khảo của mình về Giáo ngữ đã nêu bật sáu loại chủ đề rộng và có phần trùng lặp, đó là: lý thuyết, phương pháp luận và thuật luận chiến ; tâm lý, xã hội và hướng nghiệp.Các học giả khác có khuynh hướng nhìn nhận sự phát triển hoặc tiến bộ đạo đức như một chủ đề thống nhất, đôi khi sử dụng chương trình ba chủ đề của chính Epictetus cho quá trình này như một chiếc chìa khóa diễn giải để hiểu ý nghĩa của các tác phẩm.

Nếu nhìn cụ thể hơn vào câu hỏi này, ta có thể xác định ba chủ đề hay cụm chủ đề đặc biệt nổi bật trong Giáo ngữ. Cả ba chủ đề đều quan trọng trong những tác phẩm về đạo đức khắc kỷ khác, mặc dù luận cứ của Epictetus đôi khi có những điểm nhấn mạnh đặc biệt. Một là năng lực của chúng ta trong việc lựa chọn, hai là năng lực của chúng ta để phát triển đạo đức (đặc biệt là về mặt xã hội); ba là ý tưởng cho rằng những năng lực này hình thành nên đặc trưng riêng biệt của bản chất con người trong khuôn khổ của một vũ trụ được định hình một cách thần thánh.1 Rất đáng để cân nhắc từng chủ đề một và để xét xem luận điểm về chúng của Epictetus phù hợp với các kiểu tư duy khắc kỷ như thế nào. Rồi sau đó, tôi sẽ thảo luận về việc những chủ đề này phù hợp với nhau như thế nào và mục đích tổng thể mà chúng mang lại trong bối cảnh giảng dạy của Epictetus là gì

Một nhóm các ý tưởng nổi bật trong Giáo ngữ có thể được liên kết với khái niệm về sự lựa chọn. Một là ý tưởng rằng chúng ta có thể và nên phân biệt rõ ràng giữa cái “tùy thuộc vào ta” (hay “trong khả năng của ta”, “eph” hēmin) với cái không phải là “tùy thuộc vào ta”, và tập trung sự quan tâm và mong muốn của ta vào nhóm đầu tiên, thay vì nhóm thứ hai. Nhóm đầu bao gồm các trạng thái tâm lý và phản ứng như niềm tin và động cơ, và nhóm thứ hai bao gồm tình trạng cơ thể, tài sản, hay địa vị xã hội của chúng ta. Chủ đề này đôi khi được liên kết với ý tưởng rằng chúng ta có thể và nên “kiểm tra lại cảm tưởng của mình” (nhận thức và suy nghĩ) trước khi “đồng ý” với chúng. Đặc biệt là, ta nên cẩn trọng để không gắn cái ý niệm “tốt” hay “xấu” một cách tùy tiện với các “ngoại cảnh” như tình trạng cơ thể hay tài sản của chúng ta. Làm như vậy sẽ tạo ra những cảm xúc (tiêu cực và sai lầm) như thất vọng hay oán giận.

Hai chủ đề này thường được thể hiện bằng thuật ngữ prohairesis. Đây là một từ Hy Lạp có nghĩa là “quyết định” hay “lựa chọn”, và đóng một vai trò quan trọng trong các tác phẩm về đạo đức của Aristotle. Epictetus sử dụng nó nhằm ám chỉ loại ý chí được thể hiện trong việc tập trung vào những gì “tùy thuộc vào ta” và trong việc “kiểm tra lại cảm tưởng”.

Mặc dù một số điểm trong cách dùng thuật ngữ của Epictetus về chủ đề này khá không chuẩn trong Chủ nghĩa Khắc kỷ,2 nhìn chung những luận bàn của ông rất phù hợp với những đặc điểm đặc trưng và được nhiều người biết đến trong tư duy khắc kỷ về tâm lý con người. Trong học thuyết khắc kỷ về hành động, cả con người và những loài động vật không phải người đều được thúc đẩy bởi “cảm tưởng” hay “vẻ bề ngoài” (phantasiai), một phạm trù rộng bao gồm nhận thức và suy nghĩ. Nhưng phản ứng của con người, hay “động vật có lý trí”, khác với phản ứng của động vật phi nhân tính theo hai cách. Một cảm tưởng lý tính có cái mà chúng ta gọi là “nội dung mệnh đề”, nghĩa là có thể được diễn đạt dưới dạng một lời phát biểu, chẳng hạn như “hành động hay đối tượng này là đúng hoặc tốt”. Ngoài ra, con người cần “đồng ý” (hay “nói có”) với nội dung của cảm tưởng trước khi điều này kích thích động cơ hành động (hormē) hoặc những phản ứng khác, bao gồm cả cảm xúc và cảm giác. Các chủ đề của Epictetus dường như thừa nhận kiểu suy nghĩ này về động cơ của con người. Là những động vật có lý trí, chúng ta có thể “kiểm tra” nội dung “cảm tưởng” của mình trước khi “đồng ý” (hay “nói có”) với chúng. Theo cách này, chúng ta có thể quyết định rằng liệu những điều liên quan có phải “tùy thuộc vào ta” hay không, và liệu chúng có rơi vào phạm vi lựa chọn hay quyết định (prohairesis) hay không. Điều này, đến lượt nó, có thể hình thành động cơ và phản ứng cảm xúc của chúng ta. Do đó, lấy một ví dụ đơn giản, nếu chúng ta “đồng ý” với cái ý kiến rằng một đối tượng nằm ngoài phạm vi kiểm soát của chúng ta là tốt (một cái xe hơi mới cứng, hay một người bạn gái hoặc bạn trai đẹp đẽ và dễ chịu), điều này có thể tạo ra cảm xúc thất vọng khi ta không thực sự có được đối tượng ấy.

Nói rộng hơn, Epictetus sử dụng chủ đề này để đề xuất một ý tưởng cơ bản cho phần lớn nội dung của Giáo ngữ và đạo đức khắc kỷ nói chung. Đây là ý tưởng cho rằng khả năng đạt được hạnh phúc là “tùy thuộc vào ta” (hay “trong khả năng của ta”) và không hề phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài, như thường giả định trong lối suy nghĩ thông thường. Ở một mức độ nào đó, ý tưởng này có nhiều tương đồng với tư tưởng La Mã và Hellenistic. Nhưng người theo Chủ nghĩa Khắc kỷ đưa ra tuyên bố này dưới một hình thức đặc biệt mạnh mẽ, có liên kết với quan điểm của họ về việc hạnh phúc được thiết lập từ đức hạnh; hay nói một cách chính xác hơn là đức hạnh là điều kiện cần và đủ để hạnh phúc.Epictetus không trình bày ý tưởng này dưới dạng thuyết minh, dạng thức mà dù dưới bất kỳ trường hợp nào cũng sẽ không phù hợp với mục đích thân mật và thực tế của những cuộc thảo luận được ghi lại trong Giáo ngữ.2 Nhưng ý tưởng này được bao hàm trong toàn bộ tác phẩm và làm cơ sở cho một chủ đề mà Epictetus đã nhấn mạnh, đó là sự phát triển hoặc tiến bộ về đạo đức.

Một đặc điểm rất riêng và cơ bản của đạo đức khắc kỷ là ý tưởng rằng tất cả mọi người nhìn chung đều có khả năng thực hiện hai loại phát triển đạo đức, một có liên quan đến sự tiến bộ trong hiểu biết về các phạm trù giá trị, loại kia liên quan đến các hình thức quan hệ. Trong loại thứ nhất, con người chuyển từ sự hấp dẫn theo bản năng sang các sản phẩm của tự nhiên, chẳng hạn như sức khỏe, để “lựa chọn” một cách sáng suốt. Cuối cùng, nếu tiến bộ đúng cách, họ sẽ hiểu ra rằng điều quan trọng, xét cho cùng, không phải là đạt được những sản phẩm tự nhiên ấy mà là làm điều đó theo cách đúng đắn, nghĩa là, theo cách thể hiện những phẩm chất cơ bản đối với đời sống tốt đẹp của con người, hoặc đức hạnh.

Ở điểm này, bất kỳ điều gì khác ngoài đức hạnh đều có vẻ là “vấn đề không quan trọng”, mặc dù việc chúng ta thấy một số điều, chẳng hạn như sức khỏe hay của cải, “được ưa thích hơn”, so với những thứ “không được ưa thích” cũng là điều tự nhiên.

Loại phát triển đạo đức thứ hai cũng bao gồm một sự dịch chuyển từ trạng thái bản năng hay nguyên thủy sang một trạng thái có lý trí (hay đạo đức) hơn. Loài người, cũng giống như những động vật phi nhân tính, có khuynh hướng tự nhiên muốn mang lại lợi ích cho ít nhất một số đồng loại khác; tình yêu của cha mẹ đối với con cái là một ví dụ rõ ràng về điều này. Nhưng ở con người, không như những loài động vật khác, bản năng này có thể được phát triển như một phần của lý tính đang tiến hóa của chúng ta, và nó có thể dẫn tới nhiều loại động lực có lợi khác.

Một trong số đó là tham gia vào khu dân cư hay cộng đồng theo cách cho phép chúng ta mang lại lợi ích cho những người khác. Một đặc điểm khác thường và đặc biệt hơn của tư tưởng khắc kỷ là coi tất cả mọi người (như những động vật có lý trí đồng loại) như thành viên của một nhóm bằng hữu nhân loại hay đồng bào của một cộng đồng thế giới.Mặc dù chúng ta không có phân tích rõ ràng trong học thuyết khắc kỷ về mối quan hệ giữa hai tuyến phát triển đạo đức (cá nhân và xã hội) này, có vẻ như rõ ràng, về lý tưởng, hai loại phát triển này đã kết hợp và củng cố lẫn nhau.5 Kết hợp lại với nhau, chúng cho phép ta tiến tới cái lý tưởng về đức hạnh mà cũng tạo nên hạnh phúc của con người. Ngay cả khi có rất ít hoặc không ai trong chúng ta tuân thủ chương trình này một cách đầy đủ, việc thực hiện dự án phát triển này và làm như vậy suốt cả cuộc đời sẽ tạo nên cốt lõi đời sống đạo đức cho bất kỳ người nào theo Chủ nghĩa Khắc kỷ.

Tuy Epictetus không sử dụng nhiều thuật ngữ khắc kỷ oikeiosis (“sự chiếm đoạt làm của riêng/dành riêng”, hay “làm quen”) cho quá trình này, nhưng rõ ràng nó là trọng tâm cho các bài giảng của ông, mặc dù ông thường chỉ bàn một phần về nó. Ví dụ, ông dành ít sự chú ý cho cái ý tưởng rằng chúng ta tiến dần đến chỗ hiểu ra giá trị của đức hạnh thông qua việc “lựa chọn” giữa “cái thích hơn” với “thờ ơ không ưa thích”. Ông tập trung nhiều hơn vào kết quả mong muốn của kiểu phát triển đầu tiên, nghĩa là, sự công nhận của chúng ta đối với giá trị tuyệt đối của đức hạnh, và, đặc biệt là kiểu trạng thái nhân cách gắn liền với sự thừa nhận này, đó là sự tận hiến toàn tâm toàn ý về mặt đạo đức hay sự chính trực tuyệt đối. Nhưng ông lại đề cao loại thứ hai, tuyến phát triển về mặt xã hội, đặc biệt ở những giai đoạn có lý tính về sau. Ông nhấn mạnh cả hai khía cạnh có thể có của sự phát triển xã hội, đó là sự tham gia một cách hợp lý vào vai trò và liên kết xã hội của chúng ta, và mối quan tâm nhân từ đối với toàn thể nhân loại. Ông cũng khám phá, theo nhiều cách, ảnh hưởng qua lại của hai tuyến phát triển này và cái cách mà tại đó, sự phát triển hiểu biết của chúng ta về giá trị tuyệt đối của đức hạnh, trong sự đối lập với những thứ được gọi là sản phẩm khác, có thể và nên cho biết về thái độ và cảm xúc của chúng ta đối với người khác. Một số những đặc điểm nổi bật và đáng nhớ nhất của Giáo ngữ bắt nguồn từ sự khám phá của Epictetus về sự ảnh hưởng qua lại này, điều này sẽ được minh họa ở phần sau.

>> Lời giáo huấn của Marcus Aurelius

Cụm chủ đề đặc biệt thứ ba của Giáo ngữ rơi vào khoảng giao thoa giữa đạo đức và logic hay vật lý, mà, như đã được nhắc tới ở trước, là những lĩnh vực quan trọng trong tư tưởng khắc kỷ. Ở phạm vi thứ nhất, một chủ đề quan trọng là ý tưởng cho rằng trạng thái tâm trí của một người khôn ngoan chuẩn mực được đánh dấu bằng tính nhất quán và sự hiểu biết chặt chẽ có được nhờ nắm vững logic và các nguyên tắc đạo đức.

Ý tưởng này đôi khi được mô tả là “tính biện chứng”, vì logic khắc kỷ cũng được miêu tả như là “phép biện chứng”.1 Epictetus không thường coi một người khôn ngoan là tiêu chuẩn để khao khát.

Thông thường hơn, ông hay viện dẫn lý tưởng của mình là Socrates hoặc Diogenes thành Sinope.2 Tuy nhiên, ông có trình bày về trạng thái tinh thần liên kết với “tính biện chứng” như một mục tiêu để hướng tới — là kết quả của giai đoạn thứ ba trong chương trình ba giai đoạn tiến bộ đạo đức của ông. Ông cũng nhấn mạnh — một cách rất thường xuyên — một chủ đề liên quan, rằng không nên chỉ theo đuổi logic như một trò tiêu khiển trí óc, mà phải coi nó là một yếu tố cần để thúc đẩy sự phát triển đạo đức của chúng ta.

Điểm chung giữa đạo đức và vật lý mang đến một vài ý tưởng quan trọng của Chủ nghĩa Khắc Kỷ, tập trung vào ý tưởng cho rằng vũ trụ tự nhiên cung cấp một khuôn khổ thông tin cho đời sống đạo đức. Vũ trụ, hay yếu tố định hình, hay “thần thánh”, của nó làm điều đó hoặc như một mô hình của trật tự, cấu trúc, và độ sáng suốt, hoặc như một nguồn chăm sóc theo ý trời dành cho những bộ phận cấu thành của vũ trụ, đặc biệt là con người, những người chia sẻ sự sáng suốt “linh thiêng” với nó. Một ý tưởng liên quan cho rằng con người thực hiện năng lực ý chí của mình bằng cách hành động phù hợp với định hướng hợp lý (thần thánh) của vũ trụ cũng như với bên trong con người họ, “người bảo hộ tinh thần” sáng suốt (daimōn). Nhóm các ý tưởng này có một vị trí nổi bật trong Giáo ngữ, cũng như trong một số tác phẩm về thực hành đạo đức khắc kỷ, đặc biệt là Suy tưởng của Marcus Aurelius. Epictetus đặc biệt nhấn mạnh ý tưởng cuối cùng, nêu bật ý tưởng cho rằng Thượng đế là người điều khiển vũ trụ và là nguồn gốc của tính hợp lý thần thánh trong chúng ta. Một chủ đề khác được nhấn mạnh là năng lực thực hiện ý chí (năng lực lý tính) trong việc phát triển theo hướng đức hạnh (được diễn tả như là prohairesis của chúng ta) là một năng lực cơ bản hoặc không thể nhượng lại của con người, mà được xây dựng nên trong một vũ trụ tự nhiên, linh thiêng. So với Marcus, ông chú trọng ít hơn vào ý tưởng rằng một khía cạnh của đức hạnh bao gồm việc quan niệm bản thân chúng ta như là một phần không thể thiếu của toàn thể vũ trụ, và chấp nhận rằng chiều hướng của các sự kiện trong cái toàn thể này là tốt, cho dù chúng có vẻ như gây bất lợi cho cá nhân chúng ta. Tương tự, ông cũng ít chú trọng hơn Marcus đối với ý tưởng về thuyết định mệnh nhân quả phổ quát, hay số phận, như một biểu hiện của tác nhân thần thánh, ý trời.

>>Chủ nghĩa khắc kỷ – triết học của một tâm hồn bản lĩnh

giáo huấn của Epictetus
Lời giáo huấn của Epictetus

Niên biểu lịch sử của Epictetus

(Tất cả năm tháng đều là sau Công nguyên)

  • Năm 50 Epictetus chào đời ở Hierapolis (thuộc Phrygia).
  • 54 Nero lên ngôi hoàng đế.
  • 57 Nero ra lệnh cho các vị nguyên lão và kỵ sĩ tham gia vào Trò chơi của ông ta.
  • 59 Nero sát hại mẹ mình, Agrippina.
  • Năm 60 Musonius Rufus bị đi đày ở vùng Tiểu Á.Không rõ năm tháng Epictetus đến La Mã; trở thành nô lệ của Epaphroditus, một cựu nô lệ quyền lực của Nero.
  • 62 Musonius Rufus trở lại La Mã; Seneca mất chức cố vấn cho Hoàng đế Nero. Nero trục xuất người vợ cũ của y, Octavia (sau đó bị sát hại), và kết hôn với Poppaea Sabina.
  • 65 Musonius Rufus bị đày đến Gyara; Piso mưu đồ chống lại Nero; Plautius Lateranus bị hành quyết; Seneca bị buộc phải tự vẫn.
  • 66 Thrasea Paetus bị buộc phải tự vẫn.
  • 68 Nero bị phế truất và tự sát; Galba trở thành hoàng đế; Musonius Rufus trở lại La Mã.
  • Năm 68 đến 69 Epictetus theo học với Musonius Rufus; ông được Epaphroditus thả tự do và vươn lên thành một thầy dạy triết học tại La Mã.
  • 69 Thời kỳ Tứ Hoàng đế (Galba, Otho, Vitellius, Vespasian).
  • 70-79 Musonius Rufus lại bị lưu đày tại một thời điểm nào đó.
  • 75 Helvidius Priscus bị lưu đày và xử tử.
  • 79 Vespasian chết; Titus trở thành hoàng đế.
  • Sau năm 79 Musonius Rufus trở lại La Mã.
  • 81 Titus chết; Domitian trở thành hoàng đế.
  • Năm 86 Arrian ra đời.
  • 89 Domitian trục xuất các triết gia khỏi La Mã; Epictetus đến Nicopolis ở Hy Lạp và mở một ngôi trường dạy triết học.
  • 96 Domitian bị ám sát; Nerva trở thành hoàng đế.
  • 98 Trajan trở thành hoàng đế.
  • Năm 100 Musonius Rufus qua đời.
  • Năm 107-109 Arrian theo học với Epictetus.
  • 117 Trajan chết; Hadrian trở thành hoàng đế. Không rõ năm tháng Hadrian đến thăm ngôi trường của Epictetus.
  • 121 Marcus Aurelius ra đời. Không rõ năm tháng Epictetus nhận nuôi một đứa bé.
  • Năm 135 Epictetus qua đời.
  • 138 Hadrian chết; Antoninus Pius, cha của Marcus Aurelius, trở thành hoàng đế.

Đón nhận tư tưởng của Epictetus

Tác phẩm Cẩm nang thư và Giáo ngữ của Epictetus có lẽ được đọc rộng rãi và có ảnh hưởng nhất trong tất cả các văn bản của phái khắc kỷ từ lần đầu xuất hiện cho đến nay. Sự kết hợp giữa chủ nghĩa lý tưởng đạo đức với tính thẳng thắn và dễ tiếp cận đã khiến những tác phẩm đó có một sức ảnh hưởng to lớn, vượt ra ngoài phạm vi tín đồ của Chủ nghĩa Khắc kỷ. Mặc dù bản chất của những sự hưởng ứng này rất khác nhau, nhưng nó tập trung vào các tính chất được coi là riêng biệt, đặc biệt là sự nhấn mạnh vào yếu tố đạo đức của chúng ta và việc làm chủ hạnh phúc của chúng ta, cũng như hướng dẫn mang tính xây dựng và thiết thực về việc tự cải thiện bản thân về mặt đạo đức.

Vào thế kỷ thứ hai, Epictetus là người có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng và phong cách của cuốn nhật ký triết học của Marcus Aurelius (Suy tưởng), và được các trí thức (không thuộc phái khắc kỷ) như Galen, Gellius và Lucian coi là nhà tư tưởng quan trọng.

Lập trường đạo đức kiên định của ông khiến ông trở nên có sức cuốn hút đối với những tín đồ đạo Cơ đốc thời ban đầu như Clement, Origen, và John Chrysostom. Tư tưởng của ông về năng lực lý tính và quyết định (prohairesis)được xem là giúp định hình cho sự xuất hiện của quan điểm của người Cơ đốc về ý chí và tự do ý chí, đặc biệt ở Origen và Augustine (thế kỷ thứ ba và bốn).1 Vào thế kỷ thứ sáu, Simplicius đã viết một bài bình luận quan trọng về cuốn Cẩm nang thư, xem nó là một bản giới thiệu về triết lý và lối sống của người theo thuyết Plato mới. Cẩm nang thư cũng được tiếp nhận, với một vài sửa đổi (bao gồm việc thay tên “Socrates” thành “St Paul”), bởi các tu sĩ Cơ đốc giáo, và sử dụng nó trong hàng thế kỷ trong Giáo hội chính thống phương Đông (Giáo hội chính thống Hy Lạp). Thông qua các học giả Cơ đốc giáo xứ Syria cổ, tư tưởng của Epictetus đã lan truyền đến vùng Hồi giáo phương Đông, chẳng hạn như ảnh hưởng đến bài giảng “Xua tan muộn phiền” của al-Kindī, một nhân vật có tiếng tăm trong việc nghiên cứu các văn bản Hy Lạp ở Baghdad vào thế kỷ thứ chín.

Từ cuối thế kỷ 15 trở đi, các bản dịch và ấn bản của các tác phẩm của Epictetus được phổ biến rộng rãi trên hầu hết các nước châu Âu. Điều này đã thúc đẩy sự xuất hiện của triết học Neostoic do Justus Lipsius (người Hà Lan, 1547 – 1606) và Guillaume de Vair (người Pháp, 1556 – 1621) khởi xướng, tư tưởng này áp dụng một cách chọn lọc các chủ đề chính của phái khắc kỷ. Epictetus cũng có ảnh hưởng đáng kể đến hai nhà tư tưởng lớn đầu thế kỷ 17, Pascal (1623 – 1662) và Descartes (1596 – 1650). Cả hai đều hưởng ứng tuyên bố của Epictetus rằng năng lực lý tính là nền tảng cho bản chất của con người và sự khích lệ của ông đối với sức chịu đựng về tinh thần. Tuy nhiên, Pascal, giống như những tác giả Cơ đốc giáo khác trong thời kỳ này, có sự dè dặt đối với “sự kiêu ngạo” đậm chất khắc kỷ của Epictetus, tức là, niềm tin rằng sự hoàn hảo của chúng ta phụ thuộc vào nỗ lực của chính ta hơn là ân điển của Thượng đế. Descartes, trong luận thuyết của phương pháp hoài nghi của mình, hưởng ứng việc Epictetus nhấn mạnh cần “kiểm tra những niệm tưởng” trước khi “đồng thuận” với chúng.

Ở Anh, sức ảnh hưởng của Epictetus rõ rệt hơn vào thế kỷ 18. Bản dịch tiếng Anh đầu tiên của tác phẩm Giáo ngữ được Elizabeth Carter xuất bản năm 1758 và vẫn là bản tiếng Anh tiêu chuẩn cho đến thế kỷ 20. Các nhà tư tưởng người Anh chịu ảnh hưởng của Epictetus trong thời kỳ này bao gồm bá tước đời thứ ba của xứ Shaftesbury (Anthony Ashley Cooper, 1671 – 1713) và Bishop Joseph Butler (1692 – 1750). Những nhà tư tưởng này cũng hưởng ứng sự chú trọng của Epictetus vào khả năng của con người đối với yếu tố lý tính và đạo đức độc lập (“lương tâm” hay “lý do đạo đức”, theo thuật ngữ của Butler ).

Epictetus đã có tiếng vang lâu đời ở Hoa Kỳ; tính nghiêm khắc của ông trong việc không thỏa hiệp về mặt đạo đức hòa hợp với niềm tin Cơ đốc giáo Tin lành và chủ nghĩa cá nhâ đạo đức vốn đã tồn tại bền bỉ trong nền văn hóa Mỹ. Những người ngưỡng mộ ông trải dài từ John Harvard và Thomas Jefferson ở thế kỷ 17 và 18 cho đến Ralph Waldo Emerson và Henry David Thoreau ở thế kỷ 19.

Gần đây nữa, Phó Đô đốc James Stockdale đã viết một cách đầy xúc động về việc chính nhờ tìm hiểu về Epictetus ở Đại học Stanford mà ông đã sống sót qua khỏi áp lực tâm lý khi bị bắt làm tù binh trong chiến tranh ở Việt Nam từ năm 1965 đến 1973. Câu chuyện của Stockdale tạo nền móng cho phương thức điều trị nhẹ nhàng của sức mạnh đạo đức Chủ nghĩa Khắc kỷ trong tiểu thuyết A Man in Full (1998) của Tom Wolfe.

Trong những năm gần đây, các tác phẩm của Epictetus, cùng với những tác phẩm khác về đạo đức thực tiễn của phái khắc kỷ, đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp tài liệu cho một sự bùng nổ các tác phẩm viết về một “cẩm nang sống” hay con đường dẫn đến hạnh phúc.2 Chủ nghĩa Khắc kỷ, đặc biệt được trình bày bởi Epictetus, cũng có ảnh hưởng quan trọng đến sự xuất hiện của phương pháp nhận thức trong trị liệu tâm lý, trong đó tập trung vào những nỗ lực có chủ ý của bệnh nhân nhằm giải quyết chứng trầm cảm và rối loạn cảm xúc, thay vì tìm cách khám phá những nguyên nhân gốc rễ trong vô thức của họ, như cách làm của phân tâm học Freud. Epictetus đã giúp định hình cho sự phát triển lối tiếp cận này của Albert Ellis và Aaron Beck, và rất có thể phù hợp hơn với một số phiên bản hiện thời của phương pháp này, những phiên bản đó gia tăng sự nhấn mạnh vào việc khuyến khích bệnh nhân suy ngẫm về các giá trị và lựa chọn cuộc sống của mình cũng như điều chỉnh những niềm tin và hành vi.3 Bằng cách này hay cách khác, lời kêu gọi mạnh mẽ của Epictetus để hiểu được vai trò quan trọng của việc nhận ra đâu là những thứ “tùy thuộc ở chúng ta” vẫn còn vang vọng với các độc giả thời hiện đại.
—————–
Trích sách ” Những lời giáo huấn của Epictetus”

Avatar of Chim Én

Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội

Leave a Reply

Back To Top

You cannot copy content of this page