Views: 25
Giải thưởng văn học Man Booker có tên ban đầu là Giải Booker-McConnell (Booker-McConnell Prize), lấy theo tên Booker-McConnell – công ty tài trợ cho giải thưởng từ khi nó ra đời năm 1968. Từ năm 2002, cùng với việc quyền quản lý giải thưởng thuộc về Quỹ Giải Booker (Booker Prize Foundation), tên chính thức của giải thưởng cũng được chuyển thành Giải Man Booker, trong đó Man là tên của Man Group, công ty tài trợ mới của giải. Ban đầu giá trị giải thưởng mỗi năm là 21.000 bảng Anh, sau được tăng lên 50.000 bảng kể từ năm 2002.
Giải Booker (Booker Prize) là một giải thưởng văn học được trao hàng năm cho một tiểu thuyết dài được coi là hay nhất được viết bằng tiếng Anh và có tác giả là công dân quốc gia thuộc Khối Thịnh vượng chung Anh hay công dân Cộng hòa Ireland.
Có 2 giải thưởng Man Booker
+ Man Booker International Prize (International Booker Prize ) là giải thưởng bắt đầu từ năm 2005 cho các tác phẩm được viết bằng ngôn ngữ khác rồi dịch sang tiếng Anh , khi tác phẩm được giải thưởng sẽ chia đều cho tác giả và dịch giả (mỗi người 25.000 bảng Anh ). Từ 2005 – 2015 : định kỳ sẽ trao thưởng 2 năm 1 lần, nhưng từ 2016 Ban tổ chức quyết định trao giải hàng năm.
+ Man Booker Prize (Booker Prize) là các tác phẩm văn học được viết chính thức từ tiếng Anh và xuất bản trong công động khối thịnh vượng chung thuộc gồm nước Anh ,14 nước thành viên cùng Ai len, Nam Phi, Zimbawe.
>> Giải thưởng văn học Renaudot
Giải Man Booker năm 2022

Giải thưởng văn học Man Booker năm 2022 đã thuộc về Shehan Karunatilka với cuốn sách có tựa đề là The Seven Moons of Maali Almeida, cuốn sách nói về cuộc nội chiến ở Sri Lanka.Nhà văn người Sri Lanka Shehan Karunatilaka đã giành được giải thưởng trị giá 50.000 bảng Anh với cuốn tiểu thuyết lấy bối cảnh cuộc nội chiến ở Sri Lanka.

Trong một bài đánh giá, tờ The Times cho rằng cuốn tiểu thuyết thứ hai của nhà văn Shehan Karunatilaka đồng thời gợi nhớ đến Agatha Christie, Salman Rushdie, Raymond Chandler, John le Carré và Stranger Things (theo một cách tích cực).
Bên cạnh đó, Tomiwa Owolade của tờ The Guardian nhận xét rằng cuốn tiểu thuyết này cũng gợi lại chủ nghĩa siêu thực trong Những linh hồn c.h.ế.t của Nikolai Gogol hay Nghệ nhân và Margarita của Mikhail Bulgakov.
Paul Lynch giành Giải Man Booker 2023

Tác giả người Ireland là Paul Lynch đã chiến thắng giải Booker năm nay với tiểu thuyết “Prophet Song”. Nội dung Prophet Song lấy bối cảnh Ireland đang chuyển sang chế độ chuyên chế. Vào một buổi tối ở Dublin, hai cảnh sát chìm đến căn hộ của nhà vi sinh vật học Eilish Stack để hỏi về chồng cô, một quan chức cấp cao của Liên đoàn Giáo viên Ireland. Trước đó, chồng của Eilish mất tích cùng hàng trăm người. Eilish bị bỏ lại với bốn người con và người cha già của cô. Nhân vật chính buộc phải làm mọi thứ để bảo vệ gia đình trước một xã hội đang sụp đổ.
Theo Guardian, hội đồng giám khảo công bố Paul Lynch nhận giải thưởng trị giá 50.000 bảng (hơn 1,5 tỷ đồng), cho cuốn tiểu thuyết thứ năm trong sự nghiệp. Shehan Karunatilaka, người giành giải Booker năm 2022, trao thưởng cho Lynch.
Trong bài phát biểu, Lynch nói:
“Tôi vô cùng vui mừng được mang giải Booker về nhà. Nhiều năm trước, khi đang nghỉ mát tại Sicily (Italy), tôi chợt nhận ra rằng mình cần phải viết, là phương hướng của cuộc đời tôi phải đi. Ngày hôm đó tôi quyết định chuyển hướng sang viết văn, và tôi rất vui vì đã làm được điều đó”.

Georgi Gospodinov giành giải Booker Quốc tế 2023
Nhà văn Georgi Gospodinov – tác giả cuốn “Time Shelter” – là người Bulgaria đầu tiên thắng giải Booker Quốc tế, sáng 24/5 (giờ Việt Nam). Ông vượt qua năm tác giả gồm Cheon Myeong Kwan, Eva Baltasar, Frank Wynne, Maryse Condé và GauZ’ để giành chiến thắng.
Bản tiếng Anh của Time Shelter do Angela Rodel (dịch giả Mỹ) chuyển ngữ, kể về một bệnh viện điều trị cho những người mắc bệnh Alzheimer. Mỗi tầng trong nơi khám bệnh sẽ tái tạo một thập niên, đưa bệnh nhân quay ngược thời gian.

Nhân vật Gaustine trong tác phẩm là nhà trị liệu, có nhiệm vụ thu thập đồ đạc trong quá khứ, từ nội thất thập niên 1960, nút áo sơ mi những năm 1940 cho đến mùi hương và ánh chiều tà. Sự nổi tiếng của bệnh viện khiến những người khỏe mạnh kéo đến để tìm về quá khứ, với hy vọng thoát khỏi nỗi kinh hoàng từ cuộc sống hiện đại.
Trong những áng văn hài hước nhưng đau lòng, Gospodinov đặt câu hỏi về cách ký ức kết nối con người. Sách mở ra phong cảnh châu Âu tương lai, nơi quá khứ được tái tạo, cùng viễn cảnh cho số phận của các quốc gia như Bulgaria, trung tâm của những cuộc xung đột ý thức hệ.
Tác phẩm khiến người đọc đặt câu hỏi về các khái niệm về bản sắc. Bao nhiêu người định hình lại quá khứ, làm nó phù hợp với hiện tại và tương lai? Ngoài biên giới phân chia các quốc gia, thời gian và ký ức cũng là những dạng biên giới khác nhau. Làm thế nào để các cá nhân, quốc gia và lục địa quyết định điều gì nên nhớ và điều gì nên quên?
Theo tác giả Gospodinov, động lực để ông viết tiểu thuyết Time Shelter đến từ cảm giác có sự sai lệch trong cỗ máy thời gian, từ góc nhìn về quy luật phát triển của thế giới. Từ năm 2016, sự kiện Brexit (Anh và Bắc Ireland rời khỏi Liên minh châu Âu) làm cho ông thấy như đang sống ở một thế giới khác. “Tôi là kiểu nhà văn thích chạy theo ngôn ngữ của những vấn đề xảy ra trong cuộc sống. Xuất thân từ thơ ca nên mỗi câu chữ đều quý giá với tôi”, nhà văn cho biết.
Gospodinov và Rodel làm việc cùng nhau được vài năm, dịch giả từng dịch một cuốn tiểu thuyết trước đó của nhà văn, cùng nhiều truyện ngắn, tiểu luận, kịch nói. Thành công của tiểu thuyết trước đó – The Physics of Sorrow (2015) – đã khiến nhiều độc giả háo hức chờ đón tác phẩm mới của Gospodinov. Mùa thu năm 2019, Rodel dịch đoạn trích trong cuốn Time Shelter dài 50 trang mà sau này trở thành phần mở đầu của bản tiếng Bulgaria, xuất bản đầu năm 2020. Sau khi có bản thảo cuối cùng, Rodel mất khoảng sáu tháng dịch toàn bộ cuốn sách.
Georgi Gospodinov 55 tuổi, là nhà văn Bulgaria được dịch sách nhiều nhất. Các tác phẩm của ông đã được dịch sang 25 thứ tiếng. Tác giả sáng tác nhiều thể loại, gồm tiểu thuyết, thơ, tiểu luận, kịch bản phim và tiểu thuyết hình ảnh, giúp ông trở thành một trong những tiếng nói hàng đầu của văn học châu Âu.
Các tác phẩm của Gospodinov lọt vào danh sách rút gọn của nhiều giải thưởng quốc tế, gồm giải Văn học PEN cho dịch thuật, Gregor von Rezzori, Bruecke Berlin và Internationaler Literaturpreis của Đức. Nhà văn từng giành giải Jan Michalski cho Văn học năm 2016 và giải Văn học Trung Âu Angelus 2019.
Samantha Harvey giành giải Booker 2024
Tiểu thuyết “Orbital” về các phi hành gia tại Trạm Vũ trụ Quốc tế của tác giả người Anh Samantha Harvey giành giải Booker 2024.
Sáng 13/11 (giờ Hà Nội), hội đồng giám khảo công bố Samantha Harvey nhận giải thưởng trị giá 50.000 bảng (hơn 1,5 tỷ đồng). Theo Guardian, Harvey là người phụ nữ đầu tiên giành giải thưởng sau 5 năm, kể từ lần Margaret Atwood và Bernardine Evaristo thắng Booker 2019. Khi được xướng tên, tác giả ôm mặt khóc, ôm bạn bè và đồng nghiệp trước khi lên sân khấu nhận giải.

Trong bài phát biểu, Harvey dành tặng chiến thắng cho những người “gìn giữ môi trường sống của Trái Đất, vì phẩm giá của con người và mọi loài sinh vật khác, những người kêu gọi và hành động vì hòa bình”. Khi được hỏi sẽ chi tiền thưởng vào việc gì, Harvey cho biết cô cần một chiếc xe đạp mới và muốn đến thăm Nhật Bản.
Với 136 trang, Orbital là cuốn sách ngắn thứ hai giành giải thưởng này trong lịch sử Booker, dài hơn bốn trang so với Offshore của Penelope Fitzgerald – giành giải năm 1979. Tiểu thuyết xuất bản lần đầu vào tháng 11/2023, là tác phẩm bán chạy nhất trong danh sách rút gọn giải Booker, với 29.000 bản tại Anh năm nay. Nội dung theo chân các nhân vật trải qua một ngày với 16 lần mặt trời mọc và lặn, là “sự suy ngẫm tinh tế về Trái Đất, vẻ đẹp và khát vọng của con người”, theo lời bình của cây bút Alexandra Harris trên tờ Guardian.
Samantha Harvey, 49 tuổi, là tiểu thuyết gia người Anh. Cô từng học triết học tại Đại học York và Đại học Sheffield (Anh), hoàn thành khóa học Thạc sĩ về viết sáng tạo của Đại học Bath Spa vào năm 2005, lấy bằng Tiến sĩ về viết sáng tạo. Tác giả từng góp mặt trong danh sách chung khảo giải Women’s Prize for Fiction (tên cũ là giải Orange) của Anh năm 2009 với tác phẩm đầu tay The Wilderness – viết theo góc nhìn của một ông lão ngoài 60 tuổi đấu tranh chống lại căn bệnh Alzheimer.
Năm 2009, Harvey có tên trong danh sách dài của giải Booker với The Wilderness. Orbital là tác phẩm thứ năm của cô, sau All Is Song, Dear Thief và The Western Wind. Cô cũng từng xuất bản hồi ký về chứng mất ngủ mang tên The Shapeless Unease vào năm 2020.
David Szalay giành giải Booker 2025
Tối ngày 10 tháng 11 năm 2025, David Szalay đã được xướng tên là người chiến thắng giải Booker Prize – một trong những giải thưởng văn học danh giá nhất thế giới với tiểu thuyết Flesh, một tác phẩm được ban giám khảo mô tả là “đen tối, dữ dội, và giàu chất văn học”. Szalay nhận được giải thưởng trị giá 50.000 bảng Anh cùng một tượng lưu niệm, được trao bởi Samantha Harvey, người chiến thắng năm ngoái.
Tác phẩm chiến thắng năm nay được lựa chọn bởi hội đồng giám khảo Booker 2025, do Roddy Doyle – người từng đoạt giải Booker năm 1993 – làm chủ tịch. Đây cũng là lần đầu tiên một cựu quán quân Booker đứng đầu ban giám khảo. Cùng ông trong hội đồng có: nhà văn Ayọ̀bámi Adébáyọ̀ (từng vào longlist Booker); nữ diễn viên, nhà sản xuất và nhà xuất bản đoạt giải Sarah Jessica Parker; nhà văn, nhà phê bình văn học kiêm người dẫn chương trình Chris Power; và Kiley Reid – tác giả từng lọt longlist và là cái tên nằm trong danh sách bán chạy của New York Times.
Ban giám khảo đã cân nhắc 153 tác phẩm, tìm kiếm cuốn tiểu thuyết dài xuất sắc nhất bằng tiếng Anh, được xuất bản tại Anh và/hoặc Ireland trong khoảng thời gian từ 1 tháng 10 năm 2024 đến 30 tháng 9 năm 2025, không phân biệt quốc tịch tác giả.
Flesh được viết bằng văn phong tối giản, trải dài qua nhiều thập kỷ – từ một khu nhà ở xã hội tại Hungary đến những dinh thự xa hoa của giới thượng lưu London. Cuốn sách theo chân István, một cậu bé sống cùng mẹ tại Hungary, từ những năm tháng lặng lẽ đầu đời đến khi trở thành tài xế cho giới siêu giàu ở London.
Tiểu thuyết khai thác sâu chủ đề nam tính, di cư, giai cấp và sự xa lạ với thân thể chính mình. Văn phong tác phẩm được giám khảo nhận xét là “khó đọc” với nhiều đoạn thoại ngắn, khoảng trắng dày đặc, khiến độc giả “phải tự lấp vào phần còn thiếu của nhân vật”. Đây là cuốn tiểu thuyết thứ sáu của David Szalay, người từng được đề cử vào danh sách rút gọn Booker năm 2016.

Một số cuốn sách đoạt giải được dịch và xuất bản tại Việt Nam:
- 1981: Những đứa con của nửa đêm – Salman Rushdie
- 1982: Danh sách của S.c.hindler – Thomas Keneally
- 1983: Cuộc sống và thời đại của Michael K – J. M. Coetzee
- 1989: Tàn ngày để lại – Kazuo Ishiguro
- 1991: Con đường đói khổ – Ben Okri
- 1992: Bệnh nhân người Anh – Michael Ondaatje
- 1997: Chúa trời của những chuyện vụn vặt – Arundhati Roy
- 1999: Ô n.h.ụ.c – J. M. Coetzee
- 2000: Tay s.á.t t.h.ủ m.ù – Margaret Atwood
- 2002: Cuộc đời của Pi – Yann Martel
- 2003: Tiểu thần Vernon – DBC Pierre
- 2005: Biển – John Banville
- 2006: Di sản của m.ấ.t mát – Kiran Desai
- 2007: Họp mặt – Anne Enright
- 2008: C.ọ.p trắng – Aravind Adiga
- 2009: Lâu đài sói – Hilary Mantel
- 2011: Nghe mùi kết thúc – Julian Barnes
- 2012: Đến đoạn đầu đài – Hilary Mantel
- 2017: Lincoln ở cõi trung ấm – George Saunders
- 2018: Người giao sữa – Anna Burns
- 2020: Shuggie Bain – Chiếc linh hồn nhỏ – Douglas Stuart
- 2021: The Promise – Lời hứa Damon Galgut
DANH SÁCH CÁC TÁC GIẢ ĐOẠT GIẢI MAN BOOKER THEO NĂM
| Năm | Tác giả | Quốc gia | Tác phẩm |
| 1969 | P. H. Newby | Vương quốc Anh | Something to Answer For |
| 1970 | Bernice Rubens | Vương quốc Anh | The Elected Member |
| 1971 | V. S. Naipaul | Trinidad và Tobago/ Vương quốc Anh | In a Free State |
| 1972 | John Berger | Vương quốc Anh | G. |
| 1973 | J. G. Farrell | Vương quốc Anh | The Siege of Krishnapur |
| 1974 | Nadine Gordimer Stanley Middleton |
Nam Phi Vương quốc Anh |
The Conservationist Holiday |
| 1975 | Ruth Prawer Jhabvala | Vương quốc Anh/ Đức | Heat and Dust |
| 1976 | David Storey | Vương quốc Anh | Saville |
| 1977 | Paul Scott | Vương quốc Anh | Staying On |
| 1978 | Iris Murdoch | Ireland/ Vương quốc Anh | The Sea, the Sea |
| 1979 | Penelope Fitzgerald | Vương quốc Anh | Offshore |
| 1980 | William Golding | Vương quốc Anh | Rites of Passage |
| 1981 | Salman Rushdie | Vương quốc Anh/ Ấn Độ | Midnight’s Children (Những đứa con lúc nữa đêm) |
| 1982 | Thomas Keneally | Úc | Schindler’s Ark (Danh sách của S.chindler) |
| 1983 | J. M. Coetzee | Nam Phi/ Úc | Life & Times of Michael K (Cuộc Đời và Thời Đại của Michael K) |
| 1984 | Anita Brookner | Vương quốc Anh | Hotel du Lac |
| 1985 | Keri Hulme | New Zealand | the bone people |
| 1986 | Kingsley Amis | Vương quốc Anh | The Old Devils |
| 1987 | Penelope Lively | Vương quốc Anh | Moon Tiger |
| 1988 | Peter Carey | Úc | Oscar and Lucinda |
| 1989 | Kazuo Ishiguro | Vương quốc Anh/ Nhật Bản | The Remains of the Day (Tàn ngày để lại) |
| 1990 | A. S. Byatt | Vương quốc Anh | Possession: A Romance |
| 1991 | Ben Okri | Nigeria | The Famished Road
(Con Đường Đói Khổ) |
| 1992 | Michael Ondaatje Barry Unsworth |
Sri Lanka/ Canada Vương quốc Anh |
The English Patient Sacred Hunger(Bệnh Nhân Người Anh) |
| 1993 | Roddy Doyle | Ireland | Paddy Clarke Ha Ha Ha |
| 1994 | James Kelman | Vương quốc Anh | How Late It Was, How Late |
| 1995 | Pat Barker | Vương quốc Anh | The Ghost Road |
| 1996 | Graham Swift | Vương quốc Anh | Last Orders |
| 1997 | Arundhati Roy | Ấn Độ | The God of Small Things
(Chúa trời của những chuyện vụn vặt) |
| 1998 | Ian McEwan | Vương quốc Anh | Amsterdam |
| 1999 | J. M. Coetzee | Nam Phi/ Úc | Disgrace (Ruồng bỏ) |
| 2000 | Margaret Atwood | Canada | The Blind Assassin (Tay sát thủ mù) |
| 2001 | Peter Carey | Úc | True History of the Kelly Gang |
| 2002 | Yann Martel | Canada | Cuộc đời của Pi (Life of Pi) |
| 2003 | DBC Pierre | Úc/ México | Vernon God Little (tiểu thần Vernon) |
| 2004 | Alan Hollinghurst | Vương quốc Anh | The Line of Beauty |
| 2005 | +John Banville
+ Ismail Kadare (Quốc tế) |
Ireland
Albania |
The Sea (Biển) |
| 2006 | Kiran Desai | Ấn Độ | The Inheritance of Loss
(Di Sản Của Mất Mát) |
| 2007 | + Anne Enright
+Chinua Achebe (Quốc Tế) |
Ireland
Nigieria |
The Gathering (Họp Mặt) |
| 2008 | Aravind Adiga | Ấn Độ | The White Tiger
Cọp Trắng (Nhà xuất bản Trẻ và DT BOOKS ấn hành). |
| 2009 | + Hilary Mantel
+ Alice Munro (Quốc Tế) |
Vương quốc Anh
Canada |
Wolf Hall (Lâu đài sói) |
| 2010 | Howard Jacobson | Vương quốc Anh | The Finkler Question |
| 2011 | + Julian Barnes
+ Philip Roth (Quốc Té) |
Vương quốc Anh
Mỹ |
The Sense of an Ending
(Nghe Mùi Kết Thúc) |
| 2012 | Hilary Mantel | Vương quốc Anh | Bring Up the Bodies
(Đến đoạn đầu đài) |
| 2013 | + Eleanor Catton
+ Lydia Davis (Quốc tế) |
New Zealand
Mỹ |
The Luminaries |
| 2014 | Richard Flanagan | Úc | The Narrow Road to the Deep North |
| 2015 | Marlon James | Jamaica | A Brief History of Seven Killings |
| László Krasznahorkai (Quốc tế) | Hungary | George Szirtes và Ottilie Mulzet | |
| 2016 | Paul Beatty | Mỹ | The Sellout |
| Han Kang (Quốc tế) | Hàn Quốc | Người ăn chay | |
| 2017 | George Saunders | Mỹ | Lincoln in the Bardo (Lincoln ở cõi trung ấm) |
| David Grossman (Quốc tế) | Israel | A Horse Walks Into a Bar | |
| 2018 | Anna Burns | Bắc Ai – len | Milkman (Người giao sữa) |
| Olga Tokarczuk (Quốc tế) | Ba Lan | Flights (Chuyến bay) | |
| 2019 | Margaret Atwood Bernardine Evaristo |
Canada Anh |
The Testaments |
| Jokha al-Harthi (Quốc tế) | Oman | Girl, Women, OtherCelestial Bodies | |
| 2020 | Douglas Stuart | Scotland | Shuggie Bain (Chiếc linh hồn nhỏ) |
| Marieke Lucas Rijneveld (Quốc tế) | Hà Lan | At Night All Blood Is Black | |
| 2021 | Damon Galgut | Nam Phi | The Promise (Lời hứa) |
| David Diop (Quốc Tế) | Pháp | At Night All Blood Is Black | |
| 2022 | Shehan Karunatilaka | Sri Lanka | The Seven Moons of Maali Almeida |
| Geetanjali Shree (Quốc Tế) | Ấn Độ | Tomb of Sand | |
| 2023 | Paul Lynch | Ireland | Prophet Song |
| Georgi Gospodinov (Quốc Tế) | Bulgaria | Time Shelter | |
| 2024 | Samantha Harvey | Anh | Orbital |
| Jenny Erpenbeck (Quốc Tế) | Đức | Kairos | |
| 2025 | David Szalay | Canada | Flesh |
| Buna Mushtaq (Quốc Tế) | Ấn Độ | Heart Lamp |
Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội







