Views: 17
Graham Greene là nhà văn người Anh nổi tiếng với tiểu thuyết “Người Mỹ trầm lặng”, xuất bản vào năm 1955. Tiểu thuyết này đã được dựng thành phim và công chiếu tại Việt Nam vào những năm 2000.
Tiểu sử Graham Greene
Graham Greene có tên đầy đủ là Henry Graham Greene, (02/10/1904 – 03/04/1991). Ông sinh tại Berkhamsted, Hertfordshire (Anh). Cha của Graham Greene là hiệu trưởng trường trung học Berkhamsted, nơi ông đã theo học một thời gian. Sau khi ông trốn học, cha ông đã cho ông tới thủ đô London, ở cùng với một nhà phân tâm học, có trách nhiệm giám sát và điều trị cho ông.

Năm 1926, sau khi học xong ở Balliol College của Đại học Oxford, Graham Greene cải giáo theo đạo Công giáo do ảnh hưởng của một thiếu nữ tên Vivien Dayrell-Browning – người phụ nữ, ông sẽ cưới làm vợ một năm sau đó. Graham Greene chuyển đến London, làm biên tập viên cho tạp chí The Times từ năm 1926 tới năm 1930.
Tác phẩm của Graham Greene
Tác phẩm đầu tay của Graham Greene được xuất bản là một tập thơ có nhan đề “Babbling April” (1925) và sau thành công của cuốn tiểu thuyết đầu tay “The Man Within” (1929), ông bỏ công việc biên tập để làm nhà phê bình phim và biên tập văn chương cho nhật báo The Sperctator cho đến năm 1940. Suốt 3 thập niên sau đó, ông làm một nhà báo tự do, đi du lịch ở nhiều nước, thu thập tư liệu và ghi chép để bắt tay viết những cuốn tiểu thuyết có tầm vóc lớn lao hơn.

Ông xuất bản thêm 3 cuốn tiểu thuyết sau cuốn tiểu thuyết “The Man Within” không gây chú ý nên Graham Greene chuyển sang viết truyện trinh thám “Stamboul Train” (1932, còn có nhan đề “Orient Express”) kể câu chuyện đối kháng giữa các nhân vật trên chuyến du hành bằng xe lửa từ eo biển Anh tới thành phố Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ.
“Stamboul Train” là cuốn tiểu thuyết đầu tiên mà ông gọi là thuộc thể loại “giải trí”, có kết cấu giống truyện trinh thám, nhưng lại đặt ra những vấn đề đạo đức sâu xa. 3 tiểu thuyết “giải trí” nữa nối tiếp nhau ra mắt: “A Gun for Sale” (1936)), “The Confidential Agent” (1939) và “The Ministry of Fear” (1943) về sau đều được dựng thành phim điện ảnh.
Tiểu thuyết “giải trí” thứ 5 là “The Third Man” ra mắt năm 1949 cũng được dựng thành phim. Tiểu thuyết đầu tiên của Graham Greene được đánh giá cao là “Brighton Rock” (1938) kể câu chuyện một kẻ tội phạm trẻ tuổi sinh ra và lớn lên trong một gia đình theo đạo Công giáo, bị săn lùng nên phải ần náu ở một resort của Anh và phải đối đầu với một người có tính tình vui vẻ và có tinh thần nhân văn mà Graham Greene không thích.

Năm 1940, Cuốn tiểu thuyết The Lawless Roads được xuất bản, thể hiện rõ rệt hơn đề tài tôn giáo qua câu chuyện một giáo sĩ Công giáo lang thang vô vọng ở vùng nông thôn Mexico vào thời kỳ các tín đồ Công giáo bị bức hại. Ông là một tu sĩ nghiện rượu luôn cố gắng hoàn thành sứ mạng của một nhà truyền giáo và phải thường xuyên đối đầu với nguy cơ mất mạng vì chính quyền cách mạng Mexico lúc bấy giờ đàn áp khốc liệt các giáo sĩ và các tín đồ Công giáo.
Graham Greene trong thế chiến thứ 2
Trong Thế chiến thứ hai, Graham Greene làm việc cho Bộ Ngoại giao Anh, ở Freetown của Sierra Leone suốt nhiều năm, thành phố sẽ là bối cảnh cuốn tiểu thuyết tiếp theo của ông có nhan đề “The Heart of the Matter” (1948) kể câu chuyện một quan chức của chính quyền thực dân Anh tốt bụng đã đi chỗ tự sát vì không thoát ra được tình trạng bế tắc và không tránh được lòng thương xót đối với tình nhân và vợ.
Cuốn tiểu thuyết “The End of the Affair “ ra mắt 3 năm sau đó kể câu chuyện ngoại tình của một người theo thuyết bất khả tri bị bỏ rơi vì người phụ nữ anh ta yêu muốn giữ vẹn sự trong sạch của tâm hồn để hiến dâng cho Thiên Chúa.
4 cuốn tiểu thuyết ra mắt sau đó đều lấy bối cảnh là một nước ở thế giới thứ ba đang ở trong thời kỳ có nhiều xáo trộn:
- “A Burnt-Out Case” (1961) kể câu chuyện một kiến trúc sư Anh chán ngán thói xu nịnh, đã sang Congo thuộc Bỉ và tìm thấy cái chết ở đây sau khi nước này giành được độc lập;
- “The Quiet American” (1955) kể câu chuyện một nhân viên tình báo trẻ tuổi của Mỹ có nhiều “thiện chí” sang Việt Nam giúp người Việt vào thời kỳ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang đi được nửa chặng đường;
- “Our Man in Havana” (1958) kể về Cuba vào thời kỳ những người Cộng sản chưa làm cách mạng và chưa lên cầm quyền ở nước này;
- “The Comedians” (1966) kể về nước Haiti dưới thời nhà độc tài François Duvalier.
Sau khi ông mất vào ngày 3 tháng 4 năm 1991 tại Vevey, Thụy Sĩ, người ta cho in những thư từ của ông trong tập “Graham Greene: A Life in Letters” (2007) và cuốn tiểu thuyết trinh thám “The Empty Chair” ông viết dở dang cũng được đăng thành nhiều kỳ trên báo.
Graham Greene và Việt Nam
Vào thời Graham Greene, Quảng trường Lam Sơn ở Việt Nam vẫn được biết đến với tên gọi là Quảng trường Garnier, nơi có khách sạn yêu thích của ông là Khách sạn Continental tại số 132-134 đường Tự Do (sau ngày 30.4.1975 đổi tên thành Đồng Khởi).

Lịch sử của khách sạn cổ kính này ở Saigon có thể bắt nguồn từ cuối thế kỷ XIX, nhưng đến đầu những năm 1950, vị trí trung tâm của nó đã khiến nó trở nên quen thuộc với nhiều phóng viên nước ngoài như Lucien Bodard (1914-1998), Jean Lartéguy (1920-2011) và Graham Greene, người đã khăng khăng ở lại phòng 214 ở góc tòa nhà để có được tầm nhìn tốt nhất về mọi hoạt động diễn ra ở quảng trường bên dưới.
Tầng trệt của khách sạn từng mở thẳng ra vỉa hè, tạo thành Continental Terrace, một điểm văn hóa cà phê giữa trung tâm thành phố. Trong Người Mỹ trầm lặng “The Quiet American”, nghi thức hàng đêm của Thomas Fowler là bắt đầu buổi tối bằng một ly bia lúc 6 giờ chiều tại sân (terrace) ở tầng trệt, nơi tiếng xúc xắc leng keng khi người Pháp chơi trò Quatre cent vingt-et-un .
Tiểu thuyết Người Mỹ trầm lặng
Cuốn tiểu thuyết “The Quiet American” (Người Mỹ trầm lặng) được Graham Greene viết từ năm 1953 tại Saigon, xuất bản vào năm 1955. Người Mỹ trầm lặng kể câu chuyện của Thomas Fowler, một nhà báo Anh ngoài 50 tuổi đã sang Việt Nam hơn 2 năm để tường thuật cuộc chiến chống thực dân Pháp của người Việt. Ông đã gặp ở Saigon Alden Pyle, một chàng trai Mỹ có tinh thần lý tưởng, thật ra là một nhân viên CIA hoạt động dưới vỏ bọc nhân viên một phái đoàn viện trợ của Mỹ.
Pyle có quan điểm về Việt Nam theo lý thuyết của York Harding, một giáo sư đại học đã viết những cuốn sách về Việt Nam nhưng chưa có kinh nghiệm thực tiễn nào về những nước ở Đông Nam Á như Việt Nam, chủ trương rằng cả chủ nghĩa thực dân lẫn chủ nghĩa Cộng sản đều không thích hợp với một đất nước như Việt Nam, chỉ một “lực lượng thứ ba” kết hợp được nhiều truyền thống của quá khứ mối có cơ may thành công. Khi gặp nhau lần đầu, chàng thanh niên Pyle đầy nhiệt huyết bày tỏ mong muốn nhờ nhà báo lão thành Fowler giúp anh ta hiểu thêm về Việt Nam. Pyle tin rằng người Mỹ sẽ giúp “lực lượng thứ ba” thắng thế ở Việt Nam, nhưng Fowler có tinh thần thực tế hơn, đã không nhìn mọi vấn đề như anh ta.
Fowler có một nhân tình trẻ là một cô gái đẹp người Việt mới 20 tuổi tên Phượng, trước đây là vũ nữ ở nhà hàng Arc-en-Ciel trên đường Jaccareo. Chị của cô muốn cô kết hôn với một người đàn ông giàu có thể giúp đỡ gia đình mình nên không tán thành mối quan hệ giữa cô với Fowler, một người đàn ông trung niên đã có vợ tại Anh. Trong một bữa ăn tối với Fowler và Phượng, Pyle đã gặp người chị của Phượng và cô ta bám riết lấy anh ta, tra vấn anh ta về mọi chuyện vì hy vọng anh ta sẽ có thể kết hôn với Phượng. Cuối bữa ăn tối, Pyle mời Phượng khiêu vũ và Fowler cảm nhận ngay hai kẻ mới tập tễnh khiêu vũ trên sàn nhảy đã bắt đầu để ý tới nhau.

Fowler đến Phát Diệm để tường thuật một cuộc chiến và Pyle đã theo ông đến Phát Diệm chỉ để thú nhận rằng anh ta đã yêu Phượng ngay từ đêm đầu tiên gặp mặt nàng và muốn cưới nàng. Fowler chẳng nói gì, nhưng vài ngày sau nhận được một bức thư cảm tạ của Pyle. Lời lẽ đầy tự tin của Pyle trong bức thư làm ông điên tiết vì Pyle tin chắc rằng Phượng sẽ bỏ ông để lấy anh ta. Đúng lúc ấy, Ban biên tập của tờ báo lại có quyết định rút Fowler về Anh.
Pyle đã đến chỗ ở của Fowler và Phượng, yêu cầu Phượng chọn giữa anh ta và Fowler. Phượng đã chọn Fowler mà không dám thừa nhận rằng tự trong thâm tâm, nàng cũng mong muốn có một sự thay đổi. Fowler đã viết ngay cho người vợ ở Anh yêu cầu bà tiến hành thủ tục ly dị.
Fowler và Pyle lại gặp nhau ở vùng chiến sự. Khi ẩn náu trong một tháp canh, hai người đã thảo luận về nhiều vấn đề, từ vấn đề tình dục cho đến vấn đề tôn giáo. Lính Việt Minh đã tấn công tháp canh và Fowler đã cứu mạng Pyle khi hai người tìm đường trốn thoát. Khi trở lại Saigon, Fowler nói dối với Phượng rằng vợ ông đã ly dị ông, nhưng Pyle đã tố cáo với Phượng rằng đó chỉ là những lời nói dối, buộc nàng một lần nữa phải chọn giữa anh ta và Fowler. Giống như một đất nước nhỏ bé bị xâu xé giữa hai thế lực thực dân, Phượng đã lựa chọn vì lợi ích trước mắt của mình, rời bỏ căn hộ của Fowler để về sống với Pyle.
Sau khi nhận được thư phúc đáp của Fowler, Ban biên tập của tờ báo quyết định cho Fowler ở lại Việt Nam thêm một năm nữa. Fowler đến một vùng chiến sự để tường thuật các sự kiện rồi trở lại Saigon, tìm gặp Pyle ở cơ quan của anh ta để nói mọi chuyện cho ra lẽ. Pyle không có mặt ở cơ quan nên sau đó đến gặp Fowler ở quán rượu và hai người đã bàn bạc một hồi lâu về việc ai sẽ kết hôn với Phượng. Một ngày cuối tuần, một chiếc xe hơi có gài chất nổ nổ tung ở Saigon, giết chết nhiều thường dân vô tội và Fowler phát hiện ra Pyle có dính líu tới tới âm mưu đánh bom này.
Pyle đã liên kết với tướng Trình Minh Thế, giúp ông ta thực hiện vụ đánh bom để gây thanh thế cho “lực lượng thứ ba” mà ông ta là một trong những người đại diện. Thấy rõ những ảo tưởng ngây thơ của những người như Pyle có thể gây ra những tác hại như thế nào, Fowler đồng ý hợp tác với những kẻ thù của Pyle để trừ khử anh ta. Pyle đã bị người của Việt Minh ám sát và Fowler có chứng cứ ngoại phạm nên không bị cảnh sát nghi ngờ gì. Sau khi hay tin Pyle đã chết, Phượng lại trở về chung sống với Fowler như trước kia.
————–
>> Đọc thêm : Orhan Pamuk – Chủ nhân Nobel văn chương 2006
Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội







