Views: 32
Giải thưởng văn học Goncourt (Prix Goncourt) là một giải thưởng văn học Pháp được sáng lập theo di chúc của Edmond de Goncourt vào năm 1896. Hội văn học Goncourt thành lập chính thức năm 1900 và giải đầu tiên được trao ngày 21 tháng 12 năm 1903.
Giải Goncourt được sáng lập để trao cho «tác phẩm văn xuôi xuất sắc nhất trong năm» và định kỳ mỗi năm một lần, nhưng hầu như chỉ trao cho tiểu thuyết. Nó là giải thưởng văn học Pháp mà bất cứ nhà văn viết tiếng Pháp nào đều mong muốn nhất. Mặc dù tiền thưởng của giải chỉ là 10 euro, nhưng sự nổi tiếng mà Goncourt đem lại cho cuốn sách sẽ là một phần thưởng còn to lớn hơn rất nhiều.
>> Giải thưởng văn học Renaudot
Các thành viên của viện Goncourt họp vào các thứ ba đầu tiên mỗi tháng trong phòng khách của họ tại tầng hai nhà hàng Drouant ở Paris (Place Gaillon, quận 2). Tên người được giải sẽ công bố ngày 3 tháng 11 sau bữa ăn trưa tại nhà hàng (Năm nay, do ảnh hưởng của Covid-19 nên thời gian công bố đã được lùi lại).
Giải chỉ trao cho mỗi nhà văn một lần. Duy có Romain Gary năm 1956 nhận giải với tiểu thuyết «Racines du ciel» (Rễ trời) và năm 1975 nhận một giải nữa với «La vie devant soi» (Cuộc sống ở trước mặt), nhưng dưới bút danh Émile Ajar.
Anh em nhà Goncourt

Trong lịch sử văn học Pháp, người ta vẫn thường nói Edmond và em trai Jules de Goncourt, còn được gọi là anh em nhà Goncourt, là những kẻ thất bại chính hiệu. Ban đầu cả hai muốn thành họa sĩ, nhưng lại chẳng vẽ được, rồi đổi hướng muốn viết tiểu thuyết, nhưng cũng không thành công, chẳng ai nhớ được anh em họ có tác phẩm gì. Làm gì cũng long đong lận đận, sự nghiệp lỡ dở, cả hai cũng chưa bao giờ kết hôn.
Lịch sử 119 năm của giải thưởng Goncourt
Dù không thành công trong sự nghiệp, nhưng họ đã làm tốt công tác “đầu thai”. Xuất thân quý tộc tư sản nhỏ, gia cảnh khá giả, thêm vào đó là sống nhờ vào món thừa kế của mẹ để lại, từ năm 1848, anh em Goncourt mỗi năm được lãnh một khoản 5.000 francs (tương đương 30.000 euro) giúp họ có thể sống thoải mái mà không cần lao động bằng ngòi bút của mình, trái với đa số nhà văn Pháp ở thế kỷ 19 phải xoay sang viết loại văn “thị trường” mới có thể nuôi được gia đình (như viết kịch đường phố, kịch vui hoặc viết tiểu thuyết đăng báo hàng ngày), nếu không thì phải chấp nhận cảnh sống nghèo khổ như Baudelaire, Gérard de Nerval.
Xuất thân tốt, nhưng cũng thật không may, hầu hết quý tộc độc thân thời đó như Flaubert và Maupassant đều bị nhiễm bệnh giang mai, và anh em nhà Goncourt cũng không ngoại lệ. Năm 1870, Jules bị giang mai thần kinh khiến anh không thể nói được, và chết sớm ở tuổi 39.
Nhưng ngay từ năm 1862, Edmond đã quyết định, rằng sau khi qua đời, tài sản của cả hai anh em sẽ được bán lấy vốn gửi ngân hàng, lợi tức từ khoản vốn gửi sẽ được dùng cho Hội văn học Goncourt để trả thù lao cho 10 nhà văn, và lập ra Giải thưởng Goncourt với khoản tiền thưởng 5.000 franc vàng trao cho một tác phẩm văn xuôi xuất sắc xuất bản trong năm.
Năm 1896, Edmond qua đời, việc thi hành ý nguyện được Edmond phó thác cho Alphonse Daudet và Léon Hennique – nhưng việc này đã gặp sự chống đối của gia đình Goncourt và cuộc tranh chấp pháp lý diễn ra kéo dài tới ngày 1/3/1900, khiến cho việc lập Hội văn học Goncourt bị chậm trễ, mãi tới năm 1900 mới đủ số hội viên và phải tới năm 1903 mới trao giải thưởng Goncourt lần đầu.
Alphonse Daudet đã qua đời trước khi được trao một ghế trong hội, ghế này đã được trao cho con ông là Léon Daudet, còn Léon Hennique được trao một ghế.Hội văn học Goncourt họp trong một bữa ăn trưa hàng tháng (ngày thứ ba đầu tiên trong tháng, ngoại trừ tháng 8), từ năm 1903 tới năm 1919 trong các tiệm ăn khác nhau ở Paris, sau đó kể từ năm 1920, chỉ họp và ăn ở tiệm Drouant tại phố Gaillon, quận 2.
Kể từ năm 1903, nhiều cái tên đoạt giải thưởng Goncourt đã đi vào lịch sử văn học thế giới như: Proust, Malraux, Simone de Beauvoir, Duras… và Goncourt đã trở thành giải thưởng văn học uy tín và có thẩm quyền nhất ở Pháp.
Giải thưởng ban đầu cho những người chiến thắng là 5.000 franc do Edmond de Goncourt quy định, đã được đổi thành 50 franc vào năm 1960 do lạm phát. Giờ đây giá trị giải thưởng còn lại chỉ vẻn vẹn 10 euro. Tuy nhiên, tiền thưởng chỉ mang tính biểu tượng, vì tác phẩm đoạt giải không chỉ nổi tiếng ở Pháp, mà còn được dịch ra nhiều thứ tiếng, trung bình bán được 400.000 bản, chỉ cần đoạt giải, tác giả sẽ nổi tiếng thế giới, vậy nên danh tiếng là chuyện lớn, tiền thưởng là chuyện nhỏ.
Cũng như bất kỳ giải thưởng nào khác, giải thưởng Goncourt thường xuyên bị chỉ trích là đã “bỏ sót” các tác giả lớn lừng lẫy của thế kỷ 20, đặc biệt là: Guillaume Apollinaire và Colette (người sau này trở thành thành viên và sau đó là chủ tịch của Hội đồng Goncourt).
Trong số những tác giả Pháp được thế giới yêu thích, công nhận, thậm chí các tác gia Pháp đoạt giải Nobel cũng bị giải Goncourt xa lánh có tên của André Gide, Jean-Paul Sartre, Albert Camus, Claude Simon, Françoise Sagan, Le Clézio…
Đổi đời nhờ đoạt giải Goncourt
Nhưng dù cho thế nào, Goncourt vẫn là giải thưởng văn học được thèm muốn nhất ở Pháp, lợi ích tiền bạc và danh tiếng giải thưởng Goncourt mang lại, không có gì sánh kịp, nó có thể thay đổi số phận của tác giả và thậm chí cả nhà xuất bản. Người ta đã tính ra được lợi nhuận cho nhà xuất bản ít nhất sẽ là ba triệu euro trong vòng tám tuần kể từ khi nhận được giải thưởng. Michel Tournier không một xu dính túi và gần như sống trên đường phố sau những năm đầu thất nghiệp, cho đến khi cuốn tiểu thuyết Chúa tể đầm lầy của ông giành được giải thưởng Goncourt năm 1970 và bán được 2 triệu bản.
Nhà văn Nga Andreï Makine đang trong tình trạng nghèo đói, ông từng phải sống tạm trong nghĩa trang khi đến Pháp, sau đó ông trở nên nổi tiếng với cuốn tiểu thuyết Di chúc Pháp, đoạt giải năm 1995 ngay sau đó đã bán được 2,5 triệu bản.
Jérôme Lindon, Giám đốc nhà xuất bản Minuit, từng thừa nhận rằng hai chiến thắng cho cuốn Người tình của Marguerite Duras năm 1984 và cuốn Chiến trường vinh quang của Jean Rouaud năm 1990 đã giúp nhà xuất bản của ông thoát khỏi phá sản.
Chính vì vậy, giải thưởng Văn học Goncourt đã trở thành mục tiêu được các nhà văn và nhà xuất bản. Quá trình trao giải thường sẽ có tính cạnh tranh gay gắt.
Thierry Laget, trong cuốn sách Proust, giải Goncourt: một cuộc bạo loạn văn học, có kể câu chuyện về giải thưởng Goncourt năm 1919 qua các tài liệu thời đó, đặc biệt phân tích báo chí tỉ mỉ. Quả thật là một cuộc bạo loạn văn học, kết quả giải Goncourt năm 1919 đã khiến cho báo giới tốn không biết bao nhiêu là giấy mực.
Năm ấy, giải thưởng Goncourt gần như là sự cạnh tranh giữa tiểu thuyết Cây thánh giá gỗ của Roland Dorgelès và Dưới bóng những cô gái đương hoa (Tập 2 kiệt tác Đi tìm thời gian đã mất) của Marcel Proust.
Cây thánh giá gỗ mô tả cuộc sống của binh lính Pháp trong Thế chiến thứ nhất, và bày tỏ lòng thương tiếc của người dân Pháp đối với những người chết lúc bấy giờ, chiến tranh vừa kết thúc, thế nên cuốn sách đã trở thành ứng viên nặng ký nhất cho giải thưởng Goncourt.

Còn tiểu thuyết của Proust không nói gì về cuộc chiến vừa kết thúc, và thêm cái nữa là Proust với tình trạng sức khỏe yếu ớt, đã không tham gia chiến đấu. Tuy nhiên, một mặt nước Pháp mong muốn quên đi nỗi kinh hoàng của cuộc chiến và nhìn về tương lai, nhưng mặt khác, nhiều người vẫn cảm thấy cần phải tưởng nhớ những người lính hy sinh cùng những đau thương đã xảy ra, và người ta muốn nỗi đau được vang vọng trong các tiểu thuyết chiến tranh. Nhưng cuối cùng, Dưới bóng những cô gái đương hoa đã chiến thắng Cây thánh giá gỗ với số phiếu sít sao 6/10 phiếu.
Giải thưởng làm dấy lên một làn sóng bất bình của giới cựu chiến binh và những ai phải gánh chịu hậu quả của cuộc chiến: những người chậm xuất ngũ, hoặc phải chịu ảnh hưởng của tham ô tái thiết, những kẻ trục lợi chiến tranh, những khó khăn của cuộc sống sau chiến tranh ở những vùng đổ nát…
Nhà xuất bản Albin Michel, lợi dụng việc công khai phiếu bầu giải thưởng, đã xuất bản cuốn Cây thánh giá gỗ ngoài bìa ghi rõ: Được 4 phiếu trên 10 phiếu bầu chọn giải thưởng Goncourt.
Tuy bị nhà xuất bản Gallimard kiện, rồi phải bồi thường thiệt hại hơn 2.000 franc, nhưng cách báo chí và công luận bàn tán xôn xao về giải thưởng Goncourt… Proust, Dorgelès và các nhà xuất bản của họ hoàn toàn nhận thức được rằng các bài báo được xuất bản, dù đáng khen hay không, đều khiến mọi người bàn tán về tác giả và tác phẩm. Và họ đã không nhầm: vào năm 1920, Dưới bóng những cô gái đương hoa đã được in lần thứ 42.
Một số sách đoạt giải Goncourt đã được xuất bản tại Việt Nam:
- 1905: Những kẻ văn minh (Les Civilisés) – Claude Farrère
- 1916: Khói lửa (Le Feu) – Henri Barbusse
- 1919: Dưới bóng những cô gái đương hoa (À l’ombre des jeunes filles en fleurs) – Marcel Proust
- 1933: Thân phận con người (La Condition humaine)- André Malraux
- 1936: Sự tha thứ muộn màng (L’Empreinte du dieu) – Maxence Van der Meersch
- 1948: Những gia đình cự tộc (Les Grandes Familles)- Maurice Druon
- 1951: Bờ biển Syrtes (Le Rivage des Syrtes) – Julien Gracq
- 1956: Rễ trời (Les Racines du ciel) – Romain Gary
- 1970: Chúa tể đầm lầy (Le Roi des aulnes) – Michel Tournier
- 1974: Cô thợ thêu (La Dentellière) – Pascal Lainé
- 1975: Cuộc sống ở trước mặt (La Vie devant soi) – Émile Ajar
- 1977: Câu chuyện New York (John l’Enfer) – Didier Decoin
- 1978: Phố những cửa hiệu u tối (Rue des Boutiques obscures) – Patrick Modiano
- 1984: Người tình (L’Amant) – Marguerite Duras
- 1985: Những cuộc hôn thú man dại (Les Noces barbares) – Yann Queffélec
- 1987: Đêm thiêng (La Nuit sacrée) – Tahar Ben Jelloun
- 1988: Triển lãm thuộc địa (L’Exposition coloniale) – Erik Orsenna
- 1989: Tạ ơn Thượng Đế (Un grand pas vers le bon Dieu) – Jean Vautrin
- 1990: Chiến trường vinh quang (Les Champs d’honneur) – Jean Rouaud
- 1991: Những người con gái dòng Chúa chịu nạn (Les Filles du Calvaire) – Pierre Combescot
- 1995: Di chúc Pháp (Le Testament français) – Andreï Makine
- 1996: Chiếc máy bay tiêm kích Zéro (Le Chasseur Zéro) – Pascale Roze
- 1997: Chiến trận (La Bataille) – Patrick Rambaud
- 1998: Nỗi niềm (Confidence pour confidence) – Paule Constant
- 1999: Tôi đi đây (Je m’en vais) – Jean Echenoz
- 2000: Ingrid Caven – Jean-Jacques Schuhl
- 2001: Brésil Đỏ (Rouge Brésil) – Jean-Christophe Rufin
- 2003: Người tình của Brecht (La Maîtresse de Brecht) – Jacques-Pierre Amette
- 2004: Mặt trời nhà Scorta (Le Soleil des Scorta) – Laurent Gaudé
- 2005: Ba ngày ở nhà mẹ (Trois jours chez ma mère) – François Weyergans
- 2006: Những kẻ thiện tâm (Les Bienveillantes) – Jonathan Littell
- 2007: Alabama Song – Gilles Leroy
- 2008: Nhẫn thạch (Syngué sabour. Pierre de patience) – Atiq Rahimi
- 2009: Ba phụ nữ can đảm (Trois femmes puissantes) – Marie NDiaye
- 2010: Bản đồ và vùng đất (La Carte et le Territoire) – Michel Houellebecq
- 2012: La Mã sụp đổ (Le Sermon sur la chute de Rome) – Jérôme Ferrari
- 2013: Hẹn gặp lại trên kia (Au revoir là-haut) – Pierre Lemaitre
- 2014: Không khóc (Pas pleurer) – Lydie Salvayre
- 2016: Người lạ trong nhà (Chanson douce) – Leïla Slimani
- 2017: Chương trình nghị sự (L’Ordre du jour) – Éric Vuillard
- 2018: Leurs enfants après eux – Nicolas Mathieu (sách đã được Nhã Nam mua bản quyền)
- 2019: Không ai sống giống ai trong cuộc đời này – Jean-Paul Dubois
- 2020: L’Anomalie – Hervé Le Tellier (sách đã được Nhã Nam mua bản quyền)
DANH SÁCH GIẢI THƯỞNG GONCOURT
Giải Goncourt cho truyện ngắn
Giải Goncourt cho truyện ngắn (tiếng Pháp: Prix Goncourt de la nouvelle) là một giải thưởng văn học của Pháp do Hội văn học Goncourt thành lập từ năm 1974 bên cạnh Giải Goncourt. Từ năm 2001, Hội văn học Goncourt hợp tác với thành phố Strasbourg cùng trao giải này.
Danh sách người đoạt giải
- 1974: Daniel Boulanger: Fouette, cocher !
- 1975: S. Corinna Bille: La Demoiselle sauvage
- 1976: Antoine Blondin: Quat’saisons
- 1977: Henri Gougaud: Départements et territoires d’outre-mort
- 1978: Christiane Baroche: Chambres, avec vue sur le passé
- 1979: Andrée Chedid: Le Corps et le Temps
- 1980: Guy Lagorce: Les Héroïques
- 1981: Annie Saumont: Quelquefois dans les cérémonies
- 1982: René Depestre: Alléluia pour une femme-jardin
- 1983: Raymond Jean: Un fantasme de Bella B.
- 1984: Alain Gerber: Les Jours de vin et de roses
- 1985: Pierrette Fleutiaux: Métamorphoses de la reine
- 1986: Jean Vautrin: Baby-boom
- 1987: Noëlle Châtelet: Histoires de bouches
- 1988: Jean-Louis Hue: Dernières Nouvelles du Père Noël
- 1989: Paul Fournel: Les Athlètes dans leur tête
- 1990: Jacques Bens: Nouvelles désenchantées
- 1991: Rafaël Pividal: Le Goût de la catastrophe
- 1992: Catherine Lépront: Trois gardiennes
- 1993: Mariette Condroyer: Un après-midi plutôt gai
- 1994: Jean-Christophe Duchon-Doris: Les Lettres du baron
- 1995: Cyrille Cahen: Le Frôleur
- 1996: Ludovic Janvier: En mémoire du lit
- 1997: François Sureau: Le Sphinx de Darwin
- 1998:
- 1999: Elvire de Brissac: Les Anges d’en bas
- 2000: Catherine Paysan: Les Désarmés
- 2001: Stéphane Denis: Elle a maigri pour le festival
- 2002: Sébastien Lapaque: Mythologie française
- 2003: Philippe Claudel: Les Petites Mécaniques
- 2004: Olivier Adam: Passer l’hiver
- 2005: Georges-Olivier Chateaureynaud: Singe savant tabassé par deux clowns
- 2006: Franz Bartelt: Le Bar des habitudes
- 2007: Brigitte Giraud: L’amour est très surestimé
- 2008: Jean-Yves Masson: Ultimes vérités sur la mort du nageur
- 2009: Sylvain Tesson: Une vie à coucher dehors
- 2010: Éric-Emmanuel Schmitt: Concerto à la mémoire d’un ange
- 2011: Bernard Comment: Tout passe
- 2012: Didier Daeninckx: L’Espoir en contrebande
- 2013: Fouad Laroui: L’Étrange Affaire du pantalon de Dassoukine
- 2014: Nicolas Cavaillès: Vie de monsieur Leguat
- 2015: Patrice Franceschi: Première Personne du singulier
Một người thích đọc và viết, quan tâm đến tâm lý học, đam mê Cổ Long, thích đọc Haruki Murakami, tinh thần theo Chủ Nghĩa Hiện Sinh, đời sống theo triết Khắc Kỷ - Cô độc hướng ngoại & Bình thản hướng nội




